Thứ Năm, 22 tháng 4, 2010

Thất nghiệp thách thức lớn các nước phát triển



Ảnh chỉ có tính minh họa. (Nguồn: Internet)

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo tình trạng thất nghiệp sẽ tiếp diễn ở các nước phát triển cho tới cuối năm 2011 với tỷ lệ thất nghiệp trung bình ở mức 9%.

Trong Báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới công bố ngày 14/4, IMF nhấn mạnh thất nghiệp cao kéo dài có thể là thách thức chủ chốt trong chính sách mà chính phủ các nước phát triển phải đối mặt khi kinh tế phục hồi.

IMF dự báo các nền kinh tế phát triển sẽ phải chật vật tạo đủ việc làm ngay khi kinh tế tăng trưởng trở lại để đáp ứng sự gia tăng của lực lượng lao động.

Tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm các nước phát triển sẽ vẫn ở mức cao khoảng 9% cho tới cuối năm 2011. Hơn nữa tỷ lệ thất nghiệp sẽ vẫn còn tăng cao ngay cả khi việc làm bắt đầu gia tăng do lực lượng lao động tiếp tục mở rộng.

Sau khi nghiên cứu các đợt suy thoái toàn cầu trước đây, IMF cảnh báo Mỹ, các nước châu Âu và Nhật Bản phải nỗ lực nhiều hơn để khởi động thị trường việc làm.

Khả năng thất nghiệp cao đòi hỏi các nước này phải đưa ra các chính sách mới để tạo việc làm như chính sách trợ cấp tạm thời cho các doanh nghiệp tuyển nhân viên. Đó là chính sách được Tổng thống Barack Obama ủng hộ khi đề xuất hoàn thuế cho các chủ doanh nghiệp sẵn sàng nhận người thất nghiệp vào làm việc lâu dài.

Cho dù trong tháng Ba, Mỹ đã tạo được 162.000 việc làm mới, mức cao nhất trong ba năm trở lại đây, nhưng tỷ lệ thất nghiệp vẫn duy trì ở mức cao 9,7%. Kể từ khi kinh tế bắt đầu suy thoái vào tháng 12/2007 khoảng 8 triệu người tại Mỹ đã mất việc làm và hiện khoảng 15 triệu người vẫn bị thất nghiệp.

Tình hình ở châu Âu chẳng có gì sáng sủa hơn khi mà trong quý 4 năm ngoái Tây Ban Nha thông báo tỷ lệ thất nghiệp trong nước đứng ở mức 18,83%./.

Trung Quốc tận thu từ khủng hoảng



Sự tương phản không thể rõ rệt hơn. Các chính phủ và công ty trên khắp thế giới phát triển đang trải qua cơn sốc tài chính và đang nỗ lực trong tuyệt vọng để tìm cách phục hồi.

Còn Trung Quốc thì khác. Tuy cũng phải chia sẻ một phần cơn sốc tài chính do không còn là một thực thể tách biệt với kinh tế thế giới, nhưng Trung Quốc không chọn cách cố hàn gắn vết thương mà lao vào các chuyến thăm Trung Đông, Châu Đại dương, Châu Mỹ Latinh để tìm kiếm các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm duy trì sự tăng trưởng kinh tế dài hạn của họ. Xét trên nhiều cấp độ, đây là một động thái thông minh.

Vết thương kinh tế mở ra cơ hội mới

Thứ nhất, hầu hết các nhà phân tích đều dự đoán rằng một khi kinh tế thế giới phục hồi, giá hàng hóa cơ bản sẽ lại tăng, do cầu tăng, cung giảm vì thiếu đầu tư mới trong thời buổi khó khăn trước đó. Khi điều này xảy ra, Trung Quốc có vị trí thuận lợi để kiểm soát được một phần lớn hơn nguồn tài nguyên giàu có của thế giới, ít nhất là bởi họ có thể tăng sản lượng từ những dự án dầu mỏ khí đốt được nhượng quyền khai thác.

Thứ hai, với việc một loạt các thị trường đang trỗi dậy giàu có tài nguyên bị ảnh hưởng nặng nề bởi việc thiếu tín dụng và sự suy yếu của các nền tảng cơ bản khác, Trung Quốc đã có thể trích một phần dự trữ ngoại tệ 2 nghìn tỉ đô la Mỹ của mình để đầu tư cho các hãng sản xuất dầu khí ở Venezuela, Iran, Nga và Brazil, nhằm đổi lại những hợp đồng cung ứng dài hạn. Trong lĩnh vực khai mỏ và kim loại Bắc Kinh thậm chí còn táo bạo hơn. Không ký kết các hợp đồng cung ứng dài hạn, Bắc Kinh mua cổ phần trực tiếp của các hãng sản xuất thép, sắt và kẽm ở Australia trong khi đang từng bước tiếp cận các hãng đồng ở Chile.
Với những ai đã quen với thị trường năng lượng và hàng hóa cơ bản quốc tế, sự phát triển này không hoàn toàn mới, nhưng điểm nổi bật là mức độ tín dụng được dành ra để cấp cho các hoạt động mua lại và sáp nhập ở nước ngoài và mua tài nguyên của Trung Quốc – không chỉ từ các doanh nghiệp lớn của nước này – mà còn thông qua các công cụ đầu tư như Tập đoàn Đầu tư Trung Quốc. Điều này không phải là vì cầu nội địa ở Trung Quốc đã tăng lên (còn xa TQ mới đạt được điều này) mà là vì đầu tư là một trong những mối quan tâm dài hạn của Bắc Kinh.

Trong thời gian qua, những mối lo kinh tế đã lan rộng, làm chứng khoán giảm giá và chủ nghĩa tài nguyên quốc gia thoái trào ở khắp nơi. Hai yếu tố này đã tạo cơ sở hữu ích cho Trung Quốc nuôi dưỡng các danh mục đầu tư vào tài nguyên thiên nhiên của mình. Bằng chứng là, công ty nhôm Trung Quốc Chinalco đang có khả năng mua được một số cổ phần lớn tại công ty khai mỏ Rio Tinto. Điều này nhấn mạnh rằng cuộc chơi trong lĩnh vực hàng hóa cơ bản, cũng giống như cuộc chơi trong ngành tài chính toàn cầu, đã được thay đổi theo ý muốn của quốc gia, và ý muốn quốc gia cũng có sức mạnh chẳng kém các quy luật của thị trường.

Hái những trái đầu mùa

Không ngạc nhiên khi cả Caracas và Mát-xcơ-va đều hân hoan chào đón các khoản vay trị giá 12 tỉ và 25 tỉ đô la Mỹ từ Trung Quốc. Để đổi lại, họ sẽ cung ứng dầu mỏ trong dài hạn cho “phía Đông”. Năng lực tài chính hiện thời của họ không thể cho phép họ làm khác.

Cách đây 3 năm, Trung Quốc đã lần đầu tiên dành sẵn các dòng tín dụng cho Venezuela, cộng thêm một khoản vay mới trị giá 12 tỉ đô la, trong khi Ngân hàng Phát triển Trung Quốc tiếp tục cho Ngân hàng Phát triển Venezuela, Bandes vay vốn. Đổi lại, gần đây Hãng dầu khí Venezuela PDVSA thỏa thuận sẽ bán cho Trung Quốc 80 nghìn thùng dầu một ngày và 200 nghìn thùng dầu thô một ngày để thanh toán số nợ đó và đảm bảo luôn có thể tiếp cận các dòng tín dụng. Số dầu này sẽ đến tay những người nhận là Sinopec và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNPC), 2 công ty dầu khí lớn của Trung Quốc.

Tuy nhiên, giá trị của hợp đồng này vẫn chưa phải là cao nhất. Nó vẫn xếp sau thỏa thuận cho vay được hậu thuẫn bằng xuất khẩu dầu trị giá 25 tỉ đô la Mỹ được chờ đợi từ lâu với Nga. Theo thỏa thuận này, hai thực thể được điều hành bởi nhà nước Nga là Rosneft và Transneft sẽ cung cấp 300 nghìn thùng dầu thô một ngày cho Trung Quốc trong 20 năm. Hợp đồng này chỉ bắt đầu sớm nhất vào năm 2011 khi đường ống Thái Bình Dương Đông Xibêri hoàn tất, nhưng nó vẫn là hợp đồng tài chính thương mại lớn nhất giữa hai nước và giúp làm dịu đi cơn khát tài chính của các nhà khổng lồ năng lượng Nga trong bối cảnh khủng hoảng tín dụng.

Mặc dù dự án này có thể bị trì hoãn, nhưng chắc chắn nó đã nhấn mạnh sự liên kết về năng lượng ngày một vững mạnh giữa Nga và Trung Quốc, và không thể bị ảnh hưởng bởi những rủi ro chính trị tương tự những nhân tố đang tác động tới nguồn cung của Nga cho thị trường châu Âu. Dù gì đi nữa, Nga đã có thể đặc biệt coi trọng việc đảm bảo nguồn cung cho Trung Quốc và quên đi quyền lợi của bạn hàng châu Âu trong giai đoạn 2010-2011; Nhu cầu của Trung Quốc quan trọng đến nỗi Mát-xcơ-va không muốn để xảy ra bất kỳ sơ suất nào.

Hợp tác và Đối kháng

Mặc dù vậy, do cầu về hàng hoá cơ bản tiếp tục giảm ởcác nước OECD trong tương lai gần, cùng với việc tăng cường chú trọng sử dụng các dạng năng lượng tái tạo, trước mắt sẽ không có sự tranh giành nào đáng kể giữa các thị trường phát triển và đang trỗi dậy. Tuy nhiên, các công ty dầu mỏ quốc tế đã hết sức lo lắng khi nhận thấy rằng, một trong những khó khăn lớn nhất là họ chỉ có khả năng giành giật 10% dự trữ tài nguyên toàn cầu do những trữ lượng tài nguyên đã được tìm thấy nằm trong tay của rất nhiều quốc gia.

Một khi nền kinh tế toàn cầu khởi sắc trở lại, họ có thể nhận thấy tỉ lệ phần trăm này thậm chí còn bị thu hẹp hơn do cán cân quyền lực trong việc kiểm soát các hàng hóa cơ bản đã nghiêng thêm về phía Đông. Nếu điều này được chứng minh là đúng, các chính phủ sẽ nhanh chóng chuyển sang tranh giành tài nguyên gay gắt ở Trung Đông, Trung Á, châu Mỹ La tinh và Châu Phi.

Thực tế, sự tranh giành tài nguyên và các mối quan hệ quốc tế luôn luôn là một hỗn hợp dễ cháy; và suy yếu kinh tế có thể loại trừ “ngòi nổ phương Tây” vào thời điểm này, nhưng cùng lúc đó nó hoạt động như một chất xúc tác thôi thúc Trung Quốc đầu tư vào các nguồn tài nguyên trên toàn cầu. Một khi cầu của thế giới phục hồi, các quốc gia và doanh nghiệp phương tây chắc chắn sẽ tái tham dự cuộc đua, nhưng Trung Quốc cũng sẽ tăng gấp đôi nỗ lực của mình. Và thế giới khi đó sẽ tiếp tục chứng kiến một cuộc cạnh tranh tài nguyên mới giữa Trung Quốc và thế giới bên ngoài. Bằng những nỗ lực chớp thời cơ từ khủng hoảng, thôn tính và mua lại nhiều tài nguyên trong thời gian qua, trên thực tế Trung Quốc đã chuẩn bị trước cho cuộc cạnh tranh khốc liệt này

Kinh tế Mỹ “tiến nhanh” hơn so với dự đoán



Mặc dù nhiều chuyến bay bị hủy bỏ do ảnh hưởng bởi khói bui núi lửa Iceland, nhưng hội nghị mùa xuân của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF và Ngân hàng thế giới WB vẫn được diễn ra theo đúng lịch trình tại thủ đô Washington. Trước thềm khai mạc hội nghị, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, nền kinh tế Mỹ đã tiến nhanh hơn so với dự đoán.
Bộ trưởng Tài chính Mỹ T. Geithner cho biết, tốc độ tăng trưởng kinh tế Mỹ hiện nay nhanh hơn so với dự đoán trước đó của chính phủ Mỹ. Ngoài ra, ông cho biết thêm, Quốc hội Mỹ sẽ xóa bỏ những mâu thuẫn của hai Đảng Dân chủ và Cộng hòa trong vấn đề cải cách tài chính, thông qua một dự luật nhằm bảo vệ lợi ích cho những người nộp thuế.

Sau khi Ủy ban chứng khoán Mỹ cáo buộc tập đoàn Goldman Sachs có những hành vi lừa đảo nhà đầu tư liên quan tới vấn đề kinh doanh các sản phẩm tài chính phái sinh như tín dụng thế chấp dưới chuẩn, hai nước Anh và Đức cũng dự định tiến hành điều tra liên quan tới vụ lừa đảo của Goldman Sachs.

Trong quý III năm nay, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Mỹ đã tăng 3,5%. Đây là lần tăng đầu tiên trong hơn một năm qua và là lần tăng với tốc độ cao nhất trong hai năm qua của nền kinh tế Mỹ.

Bên cạnh đó, trong một thông cáo của mình, Nhà Trắng cho biết gói kích thích kinh tế trị giá 787 tỷ USD mà chính phủ Mỹ thông qua hồi đầu năm nay đã giúp duy trì và tạo ra hơn một triệu việc làm.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia kinh tế vẫn nhắc nhở rằng, mặc dù nền kinh tế đang có đà khôi phục đáng lạc quan, nhưng vẫn còn “một con đường dài phía trước” trước khi nước Mỹ trở lại “thời thịnh vượng”

Châu Á rục rịch ngừng chính sách nới lỏng tiền tệ



Ngân hàng trung ương một số nước ở châu Á bắt đầu ngừng áp dụng chính sách nới lỏng tiền tệ trong bối cảnh nền kinh tế các nước này đã phục hồi, trong khi rủi ro lạm phát ngày càng tăng.

Mới đây, Malaisia và Ấn Độ đã tăng tỷ lệ lãi suất chính sách lần đầu tiên kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, còn Ôxtrâylia đã tăng lãi suất 4 lần liên tiếp. Malaisia là nước đầu tiên ở châu Á, không kể Ôxtrâylia, tăng lãi suất trong một phần nỗ lực nhằm chấm dứt các biện pháp đối phó khủng hoảng khi Ngân hàng trung ương nước này đã tăng 0,25% lãi suất lên 2,25% vào tháng trước. Ấn Độ đã tăng lãi suất vào giữa tháng 3, trong khi Trung Quốc được dự đoán sẽ làm như vậy vào quý II năm nay. Các nước khác trong khu vực dự kiến cũng hành động tương tự, nhưng thời điểm còn tuỳ thuộc vào giá cả tăng mạnh ở mức độ nào.

Ngày 19/3, Ngân hàng Trung ương Ấn Độ (RBI) đã tăng lãi suất tái chiết khấu từ 4,75% lên 5%. RBI cho rằng, sự tăng giá nhanh chóng của các mặt hàng không phải là lương thực cũng như các mặt hàng nhiên liệu trong những tháng gần đây đã trở thành mối lo ngại thực sự. Còn Malaisia nâng lãi suất trong bối cảnh nhu cầu nội địa ở nước này đã tăng nhờ các biện pháp kích thích kinh tế của Chính phủ và kim ngạch xuất khẩu hồi phục. Ngân hàng Trung ương Malaisia (BNM) đã quyết định tăng lãi suất chính sách từ 2% lên mức 2,25%. Đây là lần đầu tiên BNM tăng lãi suất này trong vòng 4 năm qua.

Trước đó, vào đầu năm 2010, cả Ấn Độ và Trung Quốc đều tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Tuy nhiên, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc vẫn chưa tăng lãi suất cơ bản.

Mặc dù Ấn Độ là nước đi đầu châu Á trong việc thắt chặt tiền tệ nhưng ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Ôxtrâylia mới là nước đầu tiên bắt đầu thực thi chiến lược lối thoát nhằm chuyển hướng chính sách tiền tệ. Ngày 2/3, Ngân hàng Dự trữ Ôxtrâylia (RBA) đã quyết định tăng lãi suất chính sách lên 4%, khi nền kinh tế nước này bắt đầu hồi phục. Đây là lần thứ 3 kể từ tháng 10/2009, RBA tăng lãi suất này.

61 tỷ USD của châu Âu không đủ giúp Hy Lạp quay lại đà tăng trưởng



Các chuyên gia kinh tế của Goldman Sachs, HSBC và Morgan Stanley đều cho rằng, gói giải cứu 61 tỷ USD mà Châu Âu và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) dành cho Hy Lạp chỉ có thể giúp nước này thoát khỏi khả năng vỡ nợ trước mắt, còn về lâu dài rất khó giúp nước này quay lại đà tăng trưởng.

Kinh tế Hy Lạp, sau khi tăng trưởng âm 2% trong năm 2009, hiện đang chịu nhiều rủi ro từ những biện pháp thắt chặt chi tiêu của chính phủ. Ngay cả sau khi giảm chi tiêu và tăng thuế, mức thâm hụt ngân sách của Hy Lạp vẫn tương đương 8,7% GDP. Theo dự báo của ngân hàng Deutsche Bank AG, kinh tế Hy Lạp có thể tăng trưởng âm 4% trong năm 2010.

Trong tuần vừa qua, Bộ trưởng Tài chính nhóm nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu đã đồng ý cấp cho Hy Lạp khoản vay 30 tỷ euro, tương đương 41 tỷ USD ở mức lãi suất 5%, thấp hơn mức lãi suất của thị trường. Ngoài ra, IMF hỗ trợ Hy Lạp thêm 15 tỷ euro để cứu nước này khỏi tình trạng vỡ nợ. Nhưng các chuyên gia kinh tế của Goldman Sachs lại nhận định: “Vấn đề quan trọng ở đây là liệu Hy Lạp có thể khiến kinh tế tăng trưởng trở lại và cùng lúc đó giảm thâm hụt ngân sách. Nếu kinh tế không tăng trưởng, nợ chỉ có thể được duy trì nếu có bên nào đó cho họ vay với mức lãi suất thấp hơn 5% trong ít nhất 1 thập kỷ. Mức lãi suất chính thức áp dụng với gói giải cứu chỉ khiến sự chú ý của thị trường đi theo hướng khác.” Còn chuyên gia kinh tế trưởng thuộc ngân hàng HSBC nhận xét: “Việc giảm thâm hụt ngân sách xuống mức tương đương 3% GDP trong 3 năm của Hy Lạp sẽ khó khăn hơn nhiều, thị trường sẽ cần đến những yếu tố đáng thuyết phục hơn trong quá trình đó.”

Như vậy, kể cả ngay khi nhận được gói cứu trợ lớn 61 tỷ USD thì nền kinh tế Hy Lạp vẫn phải đối mặt với rất nhiều thách thức để có thể vực dậy và quay lại đà tăng trưởng.

Thông tin tài chính tiền tệ ngày 19/4/2010



CTCK nhóm nước vùng Vịnh tăng điểm mạnh nhất thế giới

Chỉ số MSCI của TTCK các nước đang phát triển, trong đó bao gồm các thị trường từ Achentina cho đến Việt Nam, đã tăng 7,8% trong năm 2010, cao hơn mức tăng 1,6% của nhóm thị trường chứng khoán các nước mới nổi.

Theo chuyên gia Andrea Nannini thuộc ngân hàng HSBC, thị trường chứng khoán khu vực Trung Đông sẽ tăng trưởng ngang hàng với những thị trường tăng điểm mạnh nhất thế giới – nhóm thị trường chứng khoán các nước đang phát triển (frontier market) sau khi Dubai World công bố kế hoạch tái cơ cấu các khoản nợ trị giá 26 tỷ USD.

Ông Nannini, chuyên gia làm việc tại quỹ HSBC New Frontiers đã kiếm được lợi nhuận tăng trưởng 71% trong năm qua, nói: “Yếu tố kích thích thị trường chứng khoán nhóm nước này tăng điểm sẽ là việc Dubai World thông báo kế hoạch tái cơ cấu. Dù kế hoạch đó như thế nào, thông tin sẽ vẫn là tiêu cực bởi người ta sẽ cảm thấy rõ ràng hơn rất nhiều. Xếp hạng của các thị trường tại Trung Đông có thể được điều chỉnh lại.”

Tháng 10/2009, ông Nannini dự báo nhóm thị trường mới nổi, với quy mô nhỏ hơn hoặc kém phát triển hơn so với thị trường các nước mới nổi, sẽ tăng mạnh hơn so với nhóm thị trường sau.

Ông Nannini cho rằng hiện còn quá sớm để cho rằng đà tăng điểm sẽ chấm dứt bởi giá cổ phiếu tại nhóm thị trường chứng khoán khu vực Trung Đông vẫn còn quá hấp dẫn.

ADB cảnh báo châu Á về việc can thiệp vào tỷ giá hối đoái

Các nước đang phát triển tại châu Á đang có nguy cơ đối mặt với một cuộc khủng hoảng kinh tế mới nếu can thiệp quá sâu vào thị trường ngoại tệ. Đó là cảnh báo của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) trong một bản báo cáo thường niên về khu vực được vừa công bố mới đây. Theo bản báo cáo trên, ADB dự đoán, tăng trưởng kinh tế trong khu vực châu Á sẽ đạt 7,5% trong năm 2010, và giảm nhẹ xuống còn 7,3% trong năm 2011 khi mà các nước đã bắt đầu cắt giảm các chính sách tiền tệ và tài khoá đặc biệt để hỗ trợ cho nền kinh tế. Tuy nhiên, sự hồi phục kinh tế nhanh và mạnh của châu Á đang phải đối mặt với nhiều rủi ro bởi vì các nước trong khu vực đã can thiệp mạnh vào các thị trường tiền tệ nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh cho các mặt hàng xuất khẩu trong nước.

Báo cáo cho rằng, tốc độ và quy mô phục hồi tại các nước châu Á, cộng với tỷ giá hối đoái thấp đã khiến cho nhiều dòng vốn lớn đổ về các nước trong ngắn hạn. “Chính sự can thiệp mạnh mẽ, cộng với lượng tiền mặt quá dư thừa đã làm cho tỷ giá hối đoái thực bị nâng lên và nền kinh tế sẽ trở nên quá nóng. Đặc biệt, sự đảo lộn bất chợt các dòng vốn trong ngắn hạn (là kết quả của sự can thiệp này) sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự ổn định tài chính và kinh tế, đồng thời tạo ra khủng hoảng tài chính và tiền tệ”.

Cũng theo báo cáo của ADB, một số đồng tiền khác của châu Á lại bị ghìm thấp hơn so với đồng đôla. Điều này cũng cho thấy nhiều nước đã can thiệp mạnh mẽ vào các thị trường ngoại hối trong một giai đoạn khá dài.

ADB cho rằng, đồng nội tệ của Trung Quốc, Hồng Công, Malaysia, Đài Loan và Singapore bị ghìm giá thấp hơn 20% so với đồng đôla, còn đồng nội tệ của Philippines và Thái Lan thấp hơn 10%. Chỉ có tiền tệ của Indonesia, Hàn Quốc và Ấn Độ là được đánh giá “cao hơn một chút” so với đồng đôla. “Rõ ràng hầu hết các đồng tiền của châu Á vẫn bị can thiệp nặng nề, hoặc là so với đồng đôla, hoặc là so với các đồng tiền với nhau. Sự can thiệp này không chỉ xuất hiện trong giai đoạn khủng hoảng”.

ADB kêu gọi ngân hàng trung ương các nước nên điểu chỉnh tỷ giá hối đoái ở mức “cân bằng”, mức mà nền kinh tế có thể vận hành một cách đầy đủ với mức lạm phát thấp và cán cân thanh toán bền vững, nhằm giảm nguy cơ thay đổi đột ngột các dòn vốn do sự can thiệp gây ra. Để đạt được điều này đòi hỏi phải có sự hợp tác sâu rộng giữa các ngân hàng trung ương trong khu vực, trong đó có Trung Quốc. Các nước cũng nên nhất trí điều chỉnh dần tỷ giá hối đoái để tiến tới một trạng thái cân bằng, đồng thời giải quyết sự bất cân đối kinh tế toàn cầu giữa các nước thặng dư và thâm hụt thương mại trong một giai đoạn dài.

Báo cáo cũng trích dẫn một phân tích cho rằng, nếu đồng NDT tăng 10% cũng chỉ làm xuất khẩu của Trung Quốc tăng chưa đến 4%. Nhưng nếu đồng nội tệ của tất cả các nước Đông Nam Á tăng 10% sẽ làm giảm xuất khẩu của Trung Quốc tới 10%.

Ngoài ra, ADB cũng yêu cầu các nước thực hiện các biện pháp cải cách, trong đó có việc điều phối chặt chẽ hơn giữa chính sách tiền tệ và tài chính, nhằm ngăn chặn tình trạng bong bóng tài sản, đồng thời rỡ bỏ những trở ngại về cơ cấu để kích cầu trong nước.

Chủ tịch ADB Haruhiko Kuroda cho biết, trong bối cảnh sự hồi phục kinh tế tại châu Á đang giành được động lực, các nhà hoạch định chính sách cần có chính sách kinh tế vĩ mô phục vụ các kế hoạch dài hạn hơn, nhằm củng cố tính bền vững của sự hồi phục kinh tế trong khu vực và trên toàn thế giới.

ADB góp 130 triệu USD cùng ASEAN+3 lập quỹ

Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cùng các nước ASEAN+3 đang tiến tới thành lập một quỹ bảo lãnh tín dụng và đầu tư chung nhằm tăng cường ổn định tài chính và thúc đẩy đầu tư dài hạn trong khu vực. Ban giám đốc ADB đã thông qua việc góp 130 triệu USD cho việc thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng và đầu tư (CGIF) cùng với các nước ASEAN+3 (ASEAN cùng các đối tác là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc). Quy mô của CGIF là 700 triệu USD, trong đó Trung Quốc góp 200 triệu USD, Nhật Bản 200 triệu USD, Hàn Quốc 100 triệu USD và các nước ASEAN góp 70 triệu USD. Dự kiến, CGIF sẽ bắt đầu hoạt động thí điểm từ năm 2011, bằng việc cung cấp bảo lãnh đối với các trái phiếu bằng tiền địa phương do những công ty trong khu vực phát hành.

Theo Cố vấn của Văn phòng Hội nhập Kinh tế Khu vực ADB, Noy Siackhachanh, CGIF sẽ giúp cho các tập đoàn có thể phát hành trái phiếu tại thị trường nội địa, các thị trường láng giềng và trên khắp ASEAN+3. Việc chuyển vốn tiết kiệm trong khu vực thành những khoản đầu tư tại khu vực sẽ hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và góp phần giảm nghèo.

Theo ADB, các thị trường trái phiếu bằng đồng tiền địa phương của Đông Á đã mở rộng nhanh chóng trong những năm gần đây, với tổng giá trị 4,4 tỷ USD vào cuối năm 2009. Tuy nhiên, các thị trường này vẫn chỉ chiếm khoảng 7% lượng trái phiếu toàn cầu. Hơn nữa, các trái phiếu công ty cũng chỉ chiếm 30% lượng trái phiếu bằng tiền bản địa trong khu vực.

Kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính 1997-1998, các chính phủ trong khu vực đã hợp tác nhằm mở rộng các thị trường trái phiếu nội địa, với việc ASEAN+3 đưa ra Sáng kiến Thị trường Trái phiếu châu Á (ABMI) và nhiều ngân hàng trung ương trong khu vực thiết lập Quỹ Trái phiếu châu Á (ABF) vào năm 2003 nhằm hỗ trợ sự phát triển của thị trường.

CGIF là sự tiếp nối của các nỗ lực nhằm thúc đẩy các thị trường trong cùng một khu vực ngày càng phụ thuộc lẫn nhau

Kinh tế Trung Quốc sẽ vượt qua Nhật Bản sau khi tăng giá đồng RMB



Theo nhận định của ngân hàng Australia and New Zealand Banking Group Ltd. (ANZ), việc Trung Quốc thực hiện đijnh giá lại đồng nhân dân tệ có thể sẽ giúp cho kinh tế nước này vượt qua Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới Liu Li-Gang, chuyên gia kinh tế thuộc ANZ Hồng Kông cho biết, việc đồng nhân dân tệ tăng lên 5% so với đôla Mỹ có thể khiến cho GDP quý 3/2010 của Trung Quốc vượt qua Nhật Bản. Cho tới cuối năm, kinh tế Trung Quốc có khả năng sẽ vượt qua Nhật Bản, kể cả khi đồng nhân dân tệ được duy trì ổn định sau khi tăng giá.

Nếu như thực sự xảy ra, việc này sẽ được coi là một bước tiến quan trọng đối với Trung Quốc sau khi quốc gia này vượt qua Đức để trở thành nước xuất khẩu hàng đầu thế giới hồi năm ngoái. Theo nhận định của Goldman Sach, sự đi lên của nền kinh tế hiện đang đứng thứ ba thế giới này sẽ khiến đồng nhân dân tệ trở thành loại tiền tệ dự trữ của nhiều quốc gia, chỉ xếp sau đồng đôla Mỹ và đồng euro.

Năm ngoái, GDP Trung Quốc đạt 33,535 nghìn tỷ nhân dân tệ, tương đương với 4,91 nghìn tỷ đôla Mỹ. Trong khi đó, tăng trưởng kinh tế Nhật Bản đạt 5,07 nghìn tỷ đôla.

Louis Kuijs, chuyên gia kinh tế Ngân hàng thế giới (WB) cho biết, mặc dù kinh tế Trung Quốc sẽ dần vượt lên và qua mặt kinh tế Nhật Bản ngay trong năm nay nhưng các yếu tố mùa vụ sẽ khiến cho việc so sánh theo quý trở nên khó khăn hơn. Theo dự đoán của SJS Markets Ltd., Trung Quốc có thể sẽ vượt qua Nhật Bản ngay từ ba tháng đầu năm nay.

Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) cũng đưa ra dự đoán tương tự rằng kinh tế Trung Quốc có thể vượt lên thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới trong năm 2010.

Ngày hôm nay, tỷ giá đồng nhân dân tệ không chuyển giao được giao dịch ở 6,6290 RMB/USD. Giới quan sát hy vọng đồng nhân dân tệ có thể sẽ được nâng lên khoảng 3% trong vòng 12 tháng tới.

Ông Liu cho rằng, việc tăng giá đồng nhân dân tệ lên 5% ngay một lần sẽ thể hiện "lợi thế thương mại" đối với các đối tác thương mại trong bối cảnh mối lo ngại về chế độ bảo hộ ngày càng gia tăng. Việc này sẽ không khuyến khích giới đầu tư hứng thú với lợi nhuận từ đồng nhân dân tệ do họ không dự đoán được thời điểm Bắc Kinh sẽ thực hiện việc tăng giá đồng nội tệ.

Trong khi đó, nếu duy trì việc tăng giá đồng nhân dân tệ một cách từ từ, vốn đầu cơ sẽ tiếp tục chảy vào Trung Quốc và gây nhiều khó khăn hơn cho các nhà hoạch định chính sách nước này trong việc kiềm chế lạm phát và rủi ro hình thành bong bóng trên thị trường bất động sản.

Theo dự đoán của ông Liu, có thể chính phủ Trung Quốc sẽ thực hiện việc đánh giá lại đồng nhân dân tệ ngay trong quý 2/2010.

Trung Quốc đang đưa Đông Á thoát khỏi khủng hoảng”




Tốc độ tăng trưởng nhanh của Trung Quốc đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển tại Đông Á phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu
Đó là kết luận Ngân hàng Thế giới (WB) trong báo cáo hàng năm cập nhật về khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, theo đó, tốc độ tăng trưởng nhanh của Trung Quốc đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển tại Đông Á phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Báo cáo khẳng định các quốc gia đang phát triển tại Đông Á (không bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc và vùng lãnh thổ Đài Loan) sẽ dẫn đầu tiến trình phục hồi kinh tế toàn cầu trong năm nay, với mức tăng trưởng dự kiến lên tới 8,7%, cao hơn đáng kể so với dự báo 7,8% đưa ra hồi tháng 11 năm ngoái. Sản lượng kinh tế khu vực, xuất khẩu và thị trường lao động gần như đã bắt nhịp và trở lại mức trước khủng hoảng. Tuy nhiên, các chính phủ cần thận trọng trong việc rút lại quá sớm các gói kích thích kinh tế, vì đầu tư tư nhân vẫn chưa trở thành động lực tăng trưởng, trong khi người nghèo vẫn đang phải gánh chịu những ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng.

Báo cáo đánh giá, Trung Quốc đã trở thành nhân tố chủ đạo kích thích các quốc gia khu vực, nhờ nhu cầu tiêu thụ ổn định từ nền kinh tế lớn thứ ba thế giới này. Sự phục hồi nhu cầu quốc tế, trong khi chi tiêu tiêu dùng trong nước tăng nhanh sẽ tiếp tục hỗ trợ kinh tế Đông Á tăng trưởng trong năm 2010. Tuy nhiên, Trung Quốc cần tìm cách giảm bớt phụ thuộc vào xuất khẩu như một đầu tàu tăng trưởng chủ chốt.

WB cho rằng các nước có thu nhập trung bình như Việt Nam, Philíppin, Thái Lan, Inđônêxia, cần phải đưa ra các chính sách mới để tạo ra sự đột phá về công nghệ và trong các ngành thu hút nhiều lao động. Các nền kinh tế đang phát triển ở Đông Á cần thắt chặt quan hệ kinh tế khu vực, nhằm thúc đẩy thương mại, giảm chi phí và tăng cường cạnh tranh quốc tế, đồng thời khuyến khích phát triển công nghệ "xanh" và sử dụng năng lượng hiệu quả

Trung Quốc lo ngại về dòng tiền nóng



Ngày 19/4, các nhà kinh tế tại Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc (CASS) tỏ ý lo ngại về sự gia tăng nhanh chóng các dòng tiền đầu cơ trong ngắn hạn, đặc biệt là trong những tháng gần đây, đồng thời kêu gọi cần điều chỉnh tỷ giá hối đoái để tăng cường kiểm soát sự di chuyển vốn ra qua biên giới.

Nhà kinh tế học Zhang Minh tại Viện Kinh tế và chính trị Quốc tế tại CASS cho rằng, số liệu cho thấy trong tháng 3/2010, các dòng tiền kiểu này đã tăng đóng kể so với hai tháng trước đó. Trong ba tháng đầu năm 2010, những dòng tiền thiếu minh bạch vào Trung Quốc lần lượt là 5,6 tỷ USD, 5,7 tỷ USD và 20,5 tỷ USD.

Cơ quan quản lý ngoại hối (SAFE) thì cho rằng trong năm nay Trung Quốc có thể sẽ chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ các dòng vốn nóng từ nước ngoài đổ về do những dự báo về đồng Nhân dân tệ tăng giá và việc lãi suất trong nước được duy trì ở mức khá cao. Ngoài ra quyết định của khu vực euro về việc viện trợ cho Hy Lạp có thể làm tăng giá đồng EUR và giảm giá đồng đôla, khiến dòng vốn ra khỏi nước Mỹ và đổ vào các nền kinh tế đang phát triển ngày càng lớn.

Trong khi đó, Mỹ có thể sẽ hoãn việc nâng lãi suất cho tới sớm nhất là vào quý IV năm nay, điều này cũng có nghĩa là khoảng cách về tỷ lệ lãi suất giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ chưa thể thu hẹp lại. Do đó, dòng vốn quốc tế tiếp tục đổ về những nước như Trung Quốc nhằm kiếm lợi nhuận.

SAFE cho biết sẽ tăng cường giám sát đối với các dòng vốn bất thường qua biên giới, đồng thời xây dựng một chế độ cảnh báo sớm toàn diện nhằm giải quyết những rủi ro có thể xảy ra

Thần thoại về nền kinh tế Trung Quốc có thể kéo dài?



Nhờ những hỗ trợ khổng lồ về tài khóa và tiền tệ mà nền kinh tế Trung Quốc hồi sinh sau suy thoái nhanh và mạnh hơn bất cứ cường quốc kinh tế nào khác. Song, với sự tăng trưởng quá nóng, câu chuyện thần thoại về nền kinh tế Trung Quốc liệu có duy trì lâu dài.
Quý I/2010, GDP của Trung Quốc tăng trưởng 11.9% dự đoán, GDP của quốc gia này sẽ trở lại hai con số là 10%. Song, nhiều người bi quan vẫn cho rằng sự phục hồi này chỉ đơn thuần dựa vào những nền tảng không vững chắc. Sự thật thì họ vẫn tỏ ra khá nghi ngại sự phát triển của Trung Quốc sau khi bong bóng vỡ tung. Tệ hơn nữa, nếu Trung Quốc chùn bước bây giờ, trong khi sự hồi phục ở các quốc gia giàu mạnh khác vẫn đang diễn ra rất yếu đuối, có thể đó sẽ là một cú nock-out dữ dội không chỉ với chính Trung Quốc mà với toàn bộ nền kinh tế toàn cầu.

Tỷ lệ tiết kiệm cao phi thường và tỷ giá hối đoái bị định giá quá thấp đã kích thích tốc độ tăng trưởng xuất khẩu và biến Trung Quốc trở thành quốc gia có thặng dư tài khoản vãng lai lớn nhất thế giới. Thói quen đầu tư quá mức đã, như từng tranh luận rất nhiều lần, liên quan tới việc năng lực sản xuất vượt quá giới hạn và sự suy giảm của tỷ lệ lợi nhuận trên vốn. Việc ngân hàng cho vay ồ ạt cũng đe dọa nguy cơ nợ xấu, trong khi thị trường chứng khoán và bất động sản lại tỏ ra vô tích sự trong trường hợp này!

Một loạt những báo cáo gay gắt gây ồn ào thời gian gần đây cảnh báo rằng bong bóng kinh tế Trung Quốc không sớm thì muộn cũng sẽ nổ tung. James Chanos, một nhà đầu tư mạo hiểm (và cũng là một trong những chuyên gia đầu tiên sớm chỉ ra rằng khoản lợi nhuận khổng lồ của Enron chỉ có thể nằm trong truyện viễn tưởng), cũng nói rằng Trung Quốc có thể là “Dubai ở quy mô gấp ngàn lần, hoặc tệ hơn”. Một quỹ đầu tư mạo hiểm khác, Pivot Capital Management, cũng tranh luận rằng đe dọa từ một sự đổ bộ khó khăn đi cùng với chi tiêu bèo bọt và hệ thống ngân hàng vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng, đang ngày càng gia tăng.

Thị trường bất động sản Trung Quốc chắc chắn vẫn rất nóng. Giá cả của các khu chung cư tại Bắc Kinh và Thượng Hải tăng vọt đều đặn 50 tới 60% trong năm 2009 vừa qua. Nhiều dự án cao cấp có những điểm chung với nhiều liên hệ tại Dubai - đáng kể là “The World”, một sự khuếch trương vô cùng sang trọng tại Tianjin, 120km so với Bắc Kinh, khi tại đó mọi ngôi nhà được sắp xếp như là một bản đồ của thế gới, với cả khách sạn 7 sao.

Hơn nữa, các gia đình Trung Quốc gánh chịu nhiều nợ hơn. Một phần tư những người mua nhà ở Trung Quốc trả bằng tiền mặt. Các khoản thế chấp chiếm 50% giá trị tài sản. Tổng nợ dừng ở mức 35% thu nhập sẵn có.

Sự bùng nổ thị trường bất động sản ở Trung Quốc được tạo nên nhờ các khoản tiết kiệm chứ không phải tiền vay ngân hàng. Theo Yan Wang, một nhà kinh tế học của công ty Canada, khoảng một phần năm chi phí của các công trình (cả thương mại và dân cư) được tài trợ bởi khoản vay ngân hàng. Một sự bùng nổ do tiết kiệm quá mức thì ít nguy hại hơn sự bùng nổ tạo nên bởi tín dụng quá hạn. Khi thị trường bắt đầu có dấu hiệu bong bóng, những nhà đầu cơ dùng đòn bẩy sẽ phải chịu áp lực giải chấp, dẫn tới giá cổ phiếu giảm và đẩy nhiều con nợ đi tới phá sản.

Ngay cả khi Trung Quốc chưa lâm vào bong bóng bất động sản, hiện tại giá nhà tại đây cũng vượt tầm tay với của khá nhiều những gia đình trung lưu. Chính phủ đã không giữ lời hứa xây những căn hộ giá rẻ và rõ ràng rằng mọi người đáng lo lắng về xu thế tăng giá của tất cả các mặt hàng. Trong nỗ lực kiểm soát giới đầu cơ, chính phủ quyết định tái lập cơ chế thu thuế với những căn nhà bán trong vòng 5 năm và chặt chẽ hơn các điều kiện với những dự án bất động sản đầu cơ thế chấp. Chính phủ cũng không muốn thắt chặt quá nhưng đã làm trong năm 2007 khi cắt giảm tín dụng bởi nó vẫn cần khu vực bất động sản để thúc đẩy sự phục hồi kinh tế. Nhưng vẫn phải hiểu rằng nếu không thắt chặt chính sách càng sớm càng tốt thì một bong bóng cực lớn hoàn toàn có thể vỡ tung

Các thông tin kinh tế đáng chú ý trong ngày



Khủng hoảng nợ Hy Lạp đang ảnh hưởng xấu đến thị trường và khiến người ta lo lắng về những gánh nặng nợ tại nhiều nước trong đó có Mỹ.

Trung Quốc lo ngại về dòng tiền nóng. Ngày 20/4, các nhà kinh tế tại Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc (CASS) tỏ ý lo ngại về sự gia tăng nhanh chóng các dòng tiền đầu cơ trong ngắn hạn, đặc biệt là trong những tháng gần đây, đồng thời kêu gọi cần điều chỉnh tỷ giá hối đoái để tăng cường kiểm soát sự chuyển dịch vốn vào, ra biên giới. Số liệu thống kê của CASS cho thấy, trong tháng 3, các dòng tiền kiểu này đã tăng đáng kể so với hai tháng trước đó. Trong ba tháng đầu 2010, những dòng tiền thiếu minh bạch vào Trung Quốc lần lượt là 5,6 tỷ đôla, 5,7 tỷ đôla và đột ngột nhảy vọt lên 20,5 tỷ đôla. Cơ quan quản lý ngoại hối Trung Quốc (SAFE) thì cho rằng trong năm nay nước này có thể sẽ chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ các dòng vốn nóng từ nước ngoài đổ vào do những dự báo đồng NDT tăng giá, cũng như việc lãi suất trong nước sẽ được duy trì ở mức khá cao.

Báo cáo lợi nhuận của Goldman Sachs bị phớt lờ : Theo Financial Times, lợi nhuận ròng của Goldman Sachs tăng 91% trong 3 tháng đầu năm 2010 lên 3,46 tỷ USD , tương đương 5,59 USD/cổ phiếu, cao hơn so với mức 1,8 tỷ USD, tức 3,39 USD/cổ phiếu cùng kỳ năm ngoái. Doanh thu của ngân hàng tăng 36% lên 12,78 tỷ USD, cao hơn so với mức 9,42 tỷ USD cùng kỳ năm trước. Goldman Sachs đã dành ra 43% doanh thu để trả lương thưởng cho nhân viên, thấp hơn mức 50% cùng kỳ. Giám đốc điều hành của Goldman Sachs, Lloyd C. Blankfein, nhận xét, kết quả kinh doanh quý 1 đã thể hiện rõ hơn dấu hiệu tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế cũng như hoạt động kinh doanh khởi sắc của khách hàng. Tuy nhiên, theo hãng tin AP, kết quả lợi nhuận của Goldman Sachs không được chào đón như thường thấy. Thậm chí, các nhà đầu tư còn phớt lờ báo cáo của ngân hàng này. Tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ có khả năng sẽ kiện ngân hàng Goldman Sachs về những thiệt hại từ các hợp đồng bảo hiểm trị giá 6 tỷ USD với những lời buộc tội tương tự như trong đơn kiện của Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch (SEC).

Ấn Độ tiếp tục nâng lãi suất cơ bản. Ngân hàng trung ương Ấn Độ (RBI), hôm thứ Ba, quyết định nâng 3 loại lãi suất cơ bản thêm 0,25%. Đây là lần thứ hai trong 30 ngày qua, RBI thay đổi chính sách tiền tệ. Điều này cho thấy chính phủ Ấn Độ ngày càng gặp nhiều khó khăn trong việc đương đầu với lạm phát tăng cao. Theo đó, mặt bằng mới của lãi suất thỏa thuận mua lại (hay lãi suất Repo) và lãi suất cơ bản thỏa thuận bán lại lần lượt sẽ là 5,25% và 3,75%. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc áp dụng cho các ngân hàng sẽ tăng từ 5,75% lên 6%. Quyết định này được đưa ra cùng với thời điểm Cơ quan thống kê Trung ương Ấn Độ công bố chỉ số giá tiêu dùng trong tháng 3 nhảy vọt 14,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Theo dự đoán của RBI, trong năm tài chính bắt đầu từ ngày 1/4/2010, kinh tế Ấn Độ sẽ tăng trưởng 8%, và tỷ lệ lạm phát cho đến cuối tháng 3/2011 sẽ được kiểm soát dưới 5,5%.

Chi phí lãi vay của Hy Lạp
đối với trái phiếu kho bạc thời hạn 3 tháng tăng hơn 100% bởi lo ngại Athens có thể rơi vào tình trạng vỡ nợ nếu không sớm nhận được gói giải cứu từ EU. Hôm qua, quốc gia Nam Âu này đã bán đấu giá 1,95 tỷ euro tương đương 2,6 tỷ USD trái phiếu kỳ hạn 3 tháng với mức lợi suất lên tới 3,65%, cao gấp đôi so với mức 1,67% hồi tháng 1. Tuy nhiên, mức lãi suất này vẫn thấp hơn một số dự báo của giới phân tích trong khoảng từ 4% đến 4,5%. Trước đó, EU đã thông qua chương trình hỗ trợ tín dụng cho Hy Lạp lên tới 30 tỷ euro. Một số cơ quan nhận định Hy Lạp cần nhiều hơn con số này để giảm thâm hụt ngân sách hiện ở cao gấp 4 lần mức cho phép của EU.

Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo mức thua lỗ của các ngân hàng
trên toàn cầu trong khủng hoảng tài chính sẽ ở mức 2,28 nghìn tỷ USD, thấp hơn 533 tỷ USD so với dự báo được đưa ra vào tháng 10/2009. IMF cho rằng các ngân hàng Mỹ thiệt hại 885 tỷ USD bởi khủng hoảng tài chính, thấp hơn so với con số 1,03 nghìn tỷ USD được đưa ra vào tháng 10/2009. Khủng hoảng nợ Hy Lạp đang ảnh hưởng xấu đến thị trường và khiến người ta lo lắng về những gánh nặng nợ tại nhiều nước trong đó có Mỹ. IMF trong báo cáo mới nhất nhấn mạnh vào những rủi ro từ nợ chính phủ cao cho đến rủi ro mà hệ thống ngân hàng nhiều nước phải đương đầu. IMF kêu gọi các nước cần kiểm soát tốt

IMF cảnh báo nguy cơ nợ công của các nước phát triển



Hôm qua (20/4), “Báo cáo ổn định tài chính toàn cầu”mà Quỹ tiền tệ quốc tế IMF công bố cho thấy, cùng với việc kinh tế phục hồi ngày một nhanh hơn, thì rủi ro cho ổn định tài chính toàn cầu cũng giảm theo, song nguy cơ nợ công của các nước phát triển cũng như vấn đề lạm phát và bong bóng tài sản của các nước đang phát triển có thể sẽ ảnh hưởng tới sự ổn định tài chính toàn cầu.

Báo cáo cho hay, cùng với sự chuyển biến tích cực của nền kinh tế thế giới, rủi ro mà ổn định tài chính gặp phải cũng đang giảm đi, tỷ suất nợ của các doanh nghiệp tài chính không ngừng giảm đi, thị trường ngày càng bình thường hóa, tình trạng sức khỏe của đại đa số các ngân hàng cũng có phần cải thiện. Theo thống kê của IMF, từ khi khủng hoảng tài chính bắt đầu tới nay, tổng số tiền ghi giảm bớt tài sản của các ngân hàng giảm từ 2800 tỷ USD - theo “Báo cáo ổn định tài chính toàn cầu” công bố tháng 10/2009 xuống còn 2300 tỷ USD, nhu cầu vốn của các ngân hàng cũng giảm đáng kể.

Cũng theo báo cáo, do tình hình thu chi tài chính của các quốc gia phát triển ngày càng xấu đi và nợ công gia tăng một cách nhanh chóng, rủi ro cho tài chính toàn cầu đang xảy ra nhiều sự biến đổi. Báo cáo cho rằng, nỗi lo của các nhà đầu tư về khả năng thanh toán dài hạn của một số nước phát triển có thể chuyển thành sức ép về vốn trong thời gian ngắn, bởi vì các nhà đầu tư yêu cầu nhận được một khoản lợi tức khá cao để triệt tiêu những rủi ro tiềm ẩn trong tương lai. Kiểu áp lực này có thể gia tăng thêm độ khó của một số khoản vay ngắn hạn của các ngân hàng quốc gia phát triển, ảnh hưởng bất lợi tới việc khôi phục tín dụng cá nhân.

Trước tình hình của các quốc gia phát triển, IMF cho rằng, các quốc gia có liên quan nên áp dụng những biện pháp như điều chỉnh chính sách tài chính trung hạn, bảo đảm quá trình hạ thấp tỷ suất nợ được tiến hành một cách thuận lợi, đồng thời hành động quyết đoán để hoàn thành cải cách giám sát tài chính, nhằm xây dựng hệ thống tài chính an toàn hơn và đầy sức sống.

Báo cáo còn phân tích, hiện nay, một số nền kinh tế mới nổi xuất hiện tình trạng tính thanh khoán lại tăng lên. Do sự phục hồi kinh tế, những dự báo về sự tăng giá tiền tệ, tính thanh khoản dồi dào và lãi suất khá thấp của các nước phát triển chủ yếu, dòng vốn chảy vào các quốc gia châu Á ngoài Nhật Bản và các nước châu Mỹ Latin có phần tăng lên, nên một số nước do xuất hiện lạm phát và bong bóng tài sản. Theo báo cáo, một số nước cần có phương pháp thiết thực để giải quyết, bao gồm vận dụng tổng hợp các biện pháp chính sách kinh tế vĩ mô và thận trọng các biện pháp chính sách tài chính.

Báo cáo kêu gọi các nước đẩy nhanh việc thực hiện chương trình cải cách tài chính. Theo báo cáo, cải cách giám sát tài chính cần phải nhanh chóng tiến hành, cơ hội giải quyết những cơ quan tài chính “quá đồ sộ mà không thể đổ” đang ngày một ít đi. So sánh với thời điểm trước khi khủng hoảng bùng nổ, quy mô và tầm ảnh hưởng của một số cơ quan tài chính càng lớn hơn, các nhà hoạch định chính sách cần phải thận trọng đối phó, giảm rủi ro mà các cơ quan tài chính có thể gây ra cho toàn bộ hệ thống. Báo cũng kêu gọi thêm, khi tiến hành cải cách giám sát tài chính, cũng phải chú ý duy trì tính an toàn của hệ thống tài chính cũng sự sự cân bằng giữa sáng tạo tài chính và hiệu suất tài chính.

TTg Putin: Suy thoái kinh tế Nga đã chấm dứt



Hôm 20/4, thông tấn xã đưa tin, Thủ tướng Nga Vladimir Putin cho biết, các chỉ số kinh tế cho thấy suy thoái của Nga đã kết thúc, tuy nhiên cuộc khủng hoảng này vẫn thực sự chưa chấm dứt.

Thủ tướng Nga Putin đã trích dẫn dự báo chính thức về tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội(GDP) ở mức 3,1% cho năm 2010, các kết quả sơ bộ về tăng trưởng sản lượng công nghiệp ở mức 5,8% và tăng trưởng thu nhập khả dụng thực tế ở mức 7,4% trong quý I năm nay.

“Tất cả điều này cho phép chúng ta nói lên rằng, suy thoái kinh tế đã kết thúc,” Thủ tướng Putin phát biểu trong một báo cáo hàng năm tại Duma Quốc gia (tức Hạ viện Nga). “Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là khủng hoảng chấm dứt,” ông nói.

Nhấn mạnh tới những kết quả tích cực mà Nga đạt được trong năm 2009 trên các lĩnh vực khác nhau như nông nghiệp, quân sự và sản xuất ô tô, Thủ tướng Putin còn cho biết, chính phủ sẽ tiếp tục hỗ trợ cho các ngành kinh doanh của Nga.

Thủ tướng Nga nói rằng, Nga sẽ tiếp tục sử dụng các biện pháp chọn lọn chống khủng hoảng, miễn là các biện pháp đó nằm trong chương trình nghị sự. Chẳng hạn như, Nga sẽ tiếp tục hỗ trợ thị trường nhà ở và ngành công nghiệp ô tô. Ông cũng xác định chắc chắn rằng, sự ổn định kinh tế vĩ mô là yếu tố chủ chốt để tăng trưởng kinh tế đất nước.

Theo Thủ tướng Nga, các điều kiện cơ bản để phát triển trong tương lai là chính sách kinh tế vĩ mô đáng tin cậy và một ngân sách cân bằng. Kinh tế Nga không thể song hành với thâm hụt ngân sách thường xuyên ở mức 6% GDP. Nếu không, chính Nga sẽ mắc phải cái bẫy nợ.

Chính phủ Nga có kế hoạch giảm thâm hụt ngân sách xuống còn 3% GDP vào năm 2012 để kéo nền kinh tế trở lại con đường tăng trưởng bền vững và không bị thâm hụt ngân sách

Lạm phát tăng chứ không phải là siêu lạm phát



Trong khi nhiều người đang lo lắng về nguy cơ lạm phát tăng, chúng tôi nghĩ rằng khả năng siêu lạm phát ở Mỹ chỉ gần ở mức không.

Năm ngoái, thâm hụt ngân sách liên bang là 1,4 nghìn tỷ USD, tương đương 10% GDP, mức thâm hụt kỷ lục kể từ sau thời kỳ chiến tranh. Năm nay, con số này có thể sẽ được cải thiện nhưng không đáng kể- vào khoảng 8% GDP.

Trong khi đó, chính quyền Obama dự định rằng với những chính sách riêng của mình - bao gồm tăng thuế đối với người giàu và chấm dứt chiến sự tại Iraq - thâm hụt ngân sách không bao giờ có thể giảm đến 3% GDP.

Theo lý thuyết, với mức thâm hụt quá lớn và triển vọng kiểm soát chi tiêu chưa thể hồi phục ngay lập tức, Chính phủ Mỹ có thể phải áp dụng chính sách tiền tệ mang phong cách Argentina để trả giá cho sự hào phóng trước đó của mình. Thoạt nhìn, điều này không quá cường điệu là mấy. Bội chi ở Hy Lạp đã tạo ra một cuộc khủng hoảng tài chính ở đó, và một số nhà phân tích nghĩ rằng Hy Lạp sẽ sáng sủa hơn khi tách khỏi đồng euro cũng như có thể giải quyết được món nợ khổng lồ của mình.

Trong khi nhiều người đang lo lắng về nguy cơ lạm phát tăng, chúng tôi nghĩ rằng khả năng siêu lạm phát ở Mỹ chỉ gần ở mức không.

Hiện tại, các khoản nợ công của Hoa Kỳ là 13 nghìn tỷ USD. Tuy nhiên, khoảng 4.5 nghìn tỷ USD là nợ chính phủ chính quốc gia này thông qua quỹ ủy thác khác nhau. Ngoài ra, Cục Dự trữ Liên bang cũng sở hữu khoảng 800 tỷ USD chứng khoán kho bạc. Trong khi Kho bạc trả tiền lãi cho Fed, Fed lại trả ngay tiền này vào Kho bạc. Kết quả là, gánh nặng nợ nần của chính phủ là khoảng 7.7 nghìn tỷ USD. Trong số này, 600 triệu USD là chứng khoán phòng ngừa lạm phát, còn món nợ cố định ở mức 7.1tỷ Dollar.

Hãy tưởng tượng rằng, tuần tới chính phủ liên bang Mỹ sẽ giống như một Argentina, hay một Zimbabwe. Ngay lập tức, họ sẽ tăng cung tiền mười lần và làm giảm giá trị của đồng đô la. Vì vậy, giá trị thực sự (đã được điều chỉnh bởi lạm phát) của món nợ cố định đối với những người nộp thuế sẽ giảm từ 7.1 nghìn tỷ USD xuống còn $710 tỷ.

65 nghìn tỷ trong chương trình an sinh xã hội và y tế cũng chỉ là chi phí để đảm bảo cho người thụ hưởng hiện tại và tương lai, tương ứng hoặc cao hơn so với doanh thu được tạo ra bởi chương trình đó. Các món nợ này không phải là chứng khoán, không phải là dưới hình thức trái phiếu được giao dịch mà nó giống như những gánh nặng cho người nộp thuế hiện tại và trong tương lai.

Và siêu lạm phát sẽ chẳng làm được gì để giảm các khoản nợ. Lạm phát cao hiện nay đơn giản là sẽ làm tăng chi tiêu ở tương lai theo các chương trình đó. An sinh xã hội đánh giá trực tiếp về mức độ lạm phát và lạm phát cao hơn sẽ làm tăng chi phí y tế. Trong thực tế, khoản trợ cấp là một hình thức nợ được đánh giá bởi lạm phát.

Nói cách khác, lạm phát phi mã sẽ chỉ ảnh hưởng đến đỉnh của tảng băng nợ tại Mỹ. Siêu lạm phát sẽ làm giảm giá trị tiền tiết kiệm, nâng cao tỷ lệ thuế suất trong việc tăng vốn và làm tăng phí bảo hiểm rủi ro. Chi phí vốn sẽ tăng cao và đầu tư sẽ giảm, đặc biệt là cho các dự án dài hạn.

Siêu lạm phát, với một bên là giảm phát, không phải là một bữa ăn trưa miễn phí. Đó là một bài học vô cùng thấm thía trong những năm 1970.

Lịch thông tin ngày 22/04



Trong ngày hôm nay, sẽ có khá nhiều thông tin quan trọng được công bố, đáng chú ý là báo cáo trợ cấp thất nghiệp và Doanh số nhà tồn đọng của Mỹ.

Hoạt động công nghiệp tổng thể của Nhật Bảncông bố lúc 11:30 AM. Chỉ số giúp đo lường sự thay đổi trong vấn đề tiêu dùng đối với các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ. Chỉ dẫn này nó cũng giống như chỉ số hoạt động của nền công nghiệp thứ 3 nhưng nó cộng thêm những thông tin trên các lĩnh vực quan trọng , gồm cả nuôi cá , làm nông nghiệp, lâm nghiệp , khai khoán và sản xuất .

Cán cân thương mại của Thụy Sĩcông bố lúc 13:15 PM. Đây là sự thay đổi trong giá trị hàng hóa giữa hàng hóa và dịch vụ được nhập khẩu và xuất khẩu trong suốt tháng được công bố và được công bố khoảng 35 ngày sau khi tháng đó kết thúc. Dữ liệu là số dương cho thấy có xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ được xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu.

Doanh số bán lẻ của Anhcông bố lúc 15:30 PM. Doanh số bán lẻ thống kê giá trị của các hoạt động bán lẻ chính thức(không bao gồm chi tiêu trong dịch vụ). Xu hướng tăng của báo cáo này có tác động tích cực tới đồng tiền của Quốc Gia bởi doanh số bán lẻ thể hiện sức mạnh mua sắm của người tiêu dùng - nhân tố chính tác động tới nền kinh tế và GDP. Các nhà đầu tư thường chú ý theo dõi báo cáo này bởi nó thường là chỉ dẫn đáng kể đầu tiên của tháng đối với các diễn biến của nền kinh tế và của thị trường. Thông tin được lấy từ tháng trước và công bố vào giữa tháng.

Phê chuẩn cho vay thế chấp sơ bộ của Anhcông bố lúc 15:30 PM.

Chỉ số dịch vụ của Anhcông bố lúc 15:30 PM.

Cung tiền M4 sơ bộ của Anhcông bố lúc 15:30 PM. Sự thay đổi tổng số tiền của quốc gia trong lưu thông và được ký gửi tại các ngân hàng.Chỉ số tăng cao hơn dự đoán sẽ tốt cho đồng tiền của quốc gia.

Kỳ vọng kinh tế ZEW của Thụy Sĩcông bố lúc 16:00 PM. Chỉ số này đo lường kỳ vọng của các nhà đầu tư và các nhà phân tích được ZEW khảo sát về điều kiện kinh tế. Chỉ số >0 ngụ ý rằng nhà đầu tư lạc quan và <0>Doanh số bán lẻ lõi của Canadacông bố lúc 19:30 PM. Doanh số bán lẻ lõi: Đo lường tổng giá trị doanh số bán lẻ, không bao gồm doanh số ô tô. Chỉ số tăng tốt cho đồng tiền của quốc gia. Doanh số ô tô chiếm khoảng 20% doanh số bán lẻ và rất dễ biến động, vì thế doanh số bán lẻ lõi được xem là thước đo tốt hơn về xu hướng chi tiêu.

Chỉ số dẫn đầu của Canadacông bố lúc 19:30 PM. Chỉ số hàng đầu đo lường toàn bộ sức khỏe của nền kinh tế bao gồm 25 chỉ số hàng đầu gồm kỳ vọng tiêu dùng, giấy phép xây dựng, giá chứng khoán và biên độ lãi suất. Chỉ số này được công bố hàng tháng .

PPI của Mỹcông bố lúc 19:30 PM. Chỉ số thể hiện sự thay đổi giá cả của hàng hóa và nguyên liệu thô được mua bởi các nhà sản xuất.Chỉ số tăng cao hơn dự đoán sẽ tốt hơn cho đồng tiền của quốc gia.Đây là chỉ báo hàng đầu cho lạm phát tiêu dùng khi các nhà sản xuất chi trả phí nhiều hơn ,họ thường có xu hướng chuyển khoản phí nhiều hơn đó vào giá hàng hóa bán cho người tiêu dùng.

Trợ cấp thất nghiệp của Mỹcông bố lúc 19:30 PM. Tổng số người nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu trong suốt tuần qua. Dữ liệu này được công bố 5 ngày sau khi tuần kết thúc. Số lượng người thất nghiệp là một dấu hiệu quan trọng của sức khỏe toàn bộ nền kinh tế bởi vì chi tiêu tiêu dùng có liên quan chặt chẽ đến thị trường lao động.

PPI lõi của Mỹ công bố lúc 19:30 PM. Xuất phát từ chỉ số giá sản xuất (PPI) nhưng loại trừ các hạng mục về thực phẩm và năng lượng . Mặc dù thực phẩm và năng lượng dễ thay đổi từ tháng này qua tháng khác, nhưng nó vẫn đóng một vai trò quan trọng liên quan đến vấn đề lạm phát .Vì vậy PPI lõi thường có ảnh hưởng ít hơn so với chỉ số PPI .

Doanh số nhà tồn đọng của Mỹ
công bố lúc 21:00 PM. Chỉ số có tác dụng đo lường doanh số bán nhà cũ(chiếm khoảng 84% doanh số bán nhà). Ảnh hưởng đến vấn đề chi tiêu cho nhà cửa trong thời gian gần. Thông tin được lấy từ tháng trước và công bố khoảng 25 hàng tháng.

Chỉ số giá nhà của Mỹ công bố lúc 21:00 PM. House Price Index (HPI): Đưa ra tỷ lệ thay đổi giá nhà chào bán trung bình của 8 bang chính tại Úc.

Báo cáo chính sách tiền tệ của Canadacông bố lúc 21:30 PM.

Dự trữ gas của Mỹcông bố lúc 21:30 PM. Chỉ số thể hiện sự thay đổi trong khối lượng của dự trữ khí ga tự nhiên được nắm giữ ở dưới lòng đất trong suốt một tuần qua.

Họp báo của BOC Canadacông bố lúc 22:15 PM.

(giavang)

Charles Evans: FED nên tiếp tục duy trì lãi suất ở mức thấp



Thời kỳ khủng hoảng kinh tế của Mỹ đã qua đi, nhưng có lẽ FED vẫn nên duy trì lãi suất cho vay ở mức thấp để kích thích đà hồi phục trên thị trường. Đó là nhận định của Charles Evans, chủ tịch FED tại bang Chicago.

"Trong bối cảnh tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao; đồng thời lạm phát đang còn rất thấp thì đó là việc FED nên làm."

Hẳn các bạn còn nhớ, FED đã quyết định hạ thấp lãi suất ngắn hạn xuống mức gần 0 vào tháng 12/2008 và tuyên bố sẽ duy trì các mức lãi suất "đặc biệt thấp" đó thêm một thời gian nữa. Bên cạnh đó, tổ chức này còn đầu tư hơn 1 nghìn tỷ đô nhằm giúp nền kinh tế thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ qua."

Ủy ban quản lý thị trường mở của ngân hàng TW sẽ tổ chức phiên họp vào tuần tới. Giới đầu tư kỳ vọng tổ chức này sẽ tiếp tục duy trì lãi suất ở mức thấp.

"Hiện tại, tỷ lệ lạm phát dường như quá bất thường ở mức 1,3%, thấp hơn dự báo của thị trường."

Bên cạnh đó, một số người cho rằng, áp lực lạm phát ngày càng dâng lên bởi hiện tại lực tích lũy vẫn còn ở mức cao

Khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp tiếp tục nâng đỡ giá vàng.



1. Đồng USD đang ở thời kỳ đỉnh cao khi giới đầu tư tìm kiếm hầm trú ẩn an toàn.

Với sự thiếu vắng những thông tin quan trọng, thị trường ngoại hối diễn ra khá bình lặng. Đồng USD tăng gía so với hầu hết các đồng tiền, mạnh nhất là khiến tỷ giá AUD/USD giảm 0.46% giá trị, duy chỉ có đồng GBP tăng nhẹ 0.15%. Trong khi đó, thị trường chứng khoán trải qua một ngày giao dịch khá sôi động với những đợt tăng giảm lien tục và chốt phiên, chỉ số Dow Jones tăng 7,86 điểm, tương đương 0,07%, chỉ số Nasdaq lên 4,3 điểm, tương ứng 0,17%, còn chỉ số S&P 500 hạ 1,23 điểm, tương đương -0,1%. Những tin tức tươi sáng về lợi nhuận của khối ngân hang tiếp tục làm dịu lại nỗi lo lắng quanh vụ bê bối của Goldman Sachs. Morgan Stanley cho hay, trong quý 1/2010, ngân hàng đã thu về 1,4 tỷ USD lợi nhuận, tương đương 99 cent/cổ phiếu, từ mức lỗ 578 triệu USD (-57 cent/cổ phiếu) của cùng kỳ năm ngoái. Doanh thu của Morgan Stanley đạt 9,1 tỷ USD. Mức lợi nhuận vượt dự báo đã giúp cổ phiếu Morgan Stanley tăng hơn 3% trong đầu phiên và kéo dài xu thế tăng điểm đến hết ngày giao dịch. Bên cạnh đó, con số lợi nhuận tăng 90% so với cùng kỳ năm ngoái của Apple cũng góp phần giữ lửa cho phố Wall.

Trong những ngày qua, giới chuyên môn đang nhìn nhận lại những xu hướng đầu tư xung quanh đồng USD. Tại thời điểm hiện nay, chúng ta đang nhìn thấy những tài sản truyền thống đang liên tục lập những kỷ lục, tăng giá lên mức cao nhất trong vòng từ 12 đến 18 tháng cùng với những sự điều chỉnh của chính sách tiền tệ cho phù hợp với quá trình hồi phục kinh tế của các quốc gia. Chính sự điều chỉnh này giúp sức hồi sinh đồng USD với vai trò một hầm trú ẩn an toàn. Chỉ số DXY được đánh giá là đang ở phong độ tốt nhất kể từ ngày 22/12 năm ngoái. Bên cạnh đó, bất ổn xung quanh vấn đề nợ công của Hy Lạp và sự giúp sức của Liên minh EU cũng như IMF, nguy cơ vỡ nợ quốc gia gia tăng trên toàn cầu cũng giúp sức cho đồng USD thắng thế so với đối thủ chính của mình là đồng EUR.

Theo một số ý kiến khác, đồng USD chưa hẳn là tài sản hoàn toàn tin cậy được. Nó chỉ là một trong số những sự lựa chọn tốt nhất trên thị trường ngoại hối mà thôi. Bên cạnh các đồng tiền đang giao dịch, còn nhiều những vật đảm bảo khác như vàng, thị trường tiền tệ…) có thể đem lại sự an toàn và một phần lợi nhuận. Nguy cơ vỡ nợ quốc gia gia tăng khiến vai trò của trái phiếu chính phủ bị giảm sút, từ đó ảnh hưởng đến vị thế đồng tiền. Nước Mỹ khó tránh khỏi nguy cơ này vì tỷ lệ nợ trên GDP của nó đang ở mức báo động theo cảnh báo của S&P, do đó tương lai của đồng bạc xanh cũng khó đoán định.

Sự hồi phục của kinh tế thế giới sẽ là nhân tố quan trọng dẫn dắt giá trị các đồng tiền. Hôm qua, IMF đã nâng dự báo về các nền kinh tế lớn, theo đó nâng dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2010 từ mức 3.9% lên mức 4.2%, trong đó, tăng trưởng của Mỹ tăng từ 2.7% lên mức 3.1%. Nếu các thông tin trong ngày lien quan đến thị trường lao động và thị trường nhà ở Mỹ đạt kết quả khả quan, dự báo đồng USD tăng giá trong ngày.

2. Khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp tiếp tục nâng đỡ giá vàng.

Giá vàng tiếp tục nhích thêm 5USD/Oz hay 0.4%, lên mức 1,146.03USD/Oz khi mà vấn đề khủng hoảng nợ công tại Hy lạp vẫn chưa có kết quả cuối cùng làm xói mòn lòng kiên nhẫn của thị trường. Thực vậy, thời gian càng kéo dài thì kì vọng lãi suất đối với trái phiếu chính phủ Hy lạp tiếp tục tăng cao và hiện đã chạm mức cao nhất trong vòng 12 năm qua đối với triếu phiếu kì hạn 10 năm lên đến 8%. Như vậy, chênh lệch lãi suất giữa trái phiếu Hy lạp và Đức đã lên tròn 5%.

"Đề cập đến vấn đề nợ công, bạn sẽ thấy hầm trú ẩn an toàn vàng càng được ưa chuộng", Matt Zeman, nhà kinh doanh kim loại tại LaSalle Futures Group có trụ sở tại Chicago phát biểu. "Giá giảm sẽ luôn được được đón nhận bởi lực mua mạnh".

Vàng giao tháng 6 tăng 9.6USD, hay 0.8%, lên 1,148.8 USD/Oz trên sàn COMEX New York, mức tăng mạnh nhất trong các hợp đồng kể từ 7/4. Trong khi đó, giá dầu thô đã vượt mức 84USD/thùng sau khi số liệu từ chính phủ Mỹ cho thấy dự trữ dầu thô tăng mạnh.

"Chúng ta có Hy lạp, và còn những hoài nghi về Ai-len, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, và thâm hụt của Anh.", Gerhard Schubert, trưởng phòng kinh doanh quý kim của Fortis Bank Nederland tại London nói. “Vàng vẫn là vịnh tránh bão tốt.”

Tuy giá vàng hiện đang chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố phức tạp như giá trị đồng USD, khủng hoảng nợ tại châu Âu, triển vọng phục hồi kinh tế toàn cầu, tâm lý bất ổn và khó đoán của thị trường, nhưng giới phân tích vẫn tin rằng vàng vẫn là vịnh tránh bão tốt nhất một phần bởi đặc tính khan hiếm, hữu ích trong công nghiệp lẫn đời sống và xu hướng tăng mang tính lịch sử của nó.

Sau loạt báo cáo kết quả kinh doanh khả quan của hàng loạt tập đoàn Mỹ, hôm nay thị trường sẽ đón nhận báo cáo về đơn xin trợ cấp thất nghiệp. Báo cáo này sẽ xác nhận lại một lần nữa tính chân thực của báo cáo bảng lương phi nông nghiệp rất khả quan tuần trước. Ngoài ra, doanh số nhà đã qua sử dụng và chỉ số giá nhà sản xuất cho ta cái nhìn rõ hơn về nền kinh tế Mỹ. Khả năng giá vàng sẽ tiếp tục tăng trong ngày.

3. Không nhiều kỳ vọng vào cuộc họp giữa EU, IMF và Hy Lạp trong việc giải cứu Hy Lạp.

Vẫn là gánh nặng Hy Lạp đe dọa đồng EUR trong khi cuộc họp giữa các nhà đại diện Hy Lạp và các “nhà tài trợ” gồm: Ủy ban Châu Âu – EU và Quỹ tiền tệ quốc tế - IMF nhằm tìm ra quyết sách đúng đắn cho việc giải cứu Hy Lạp đang diễn ra và chưa đi đến kết luận cuối cùng. Sẽ không có gì đáng nói nếu quả thực gói ứng cứu mà các bên tham gia đạt con số thỏa đáng và đến với Hy Lạp đúng thời điểm. Tuy nhiên, cụôc họp vẫn chưa đi đến kết luận cuối cùng, và những dự báo kém lạc quan của các nhà đầu tư là nguyên nhân khiến đồng EUR trở nên mất sức hút. Theo kế hoạch, cuộc họp sẽ kéo dài trong 2 tuần trước khi có công bố chính thức, tuy nhiên tình trạng của Hy Lạp có vẻ cấp bách hơn và khi Bộ trưởng tài chính Hy Lạp, ông Papaconstantinou, đã đề nghị muốn nhận được gói trợ giúp trước khi kết thúc cuộc họp. Vì vậy, đã có những dự báo các gói ứng cứu mà các bên cam kết sẽ được kích hoạt vào tuần tới.

Tin về chỉ số sức mua nhà sản xuất – PMI và chỉ số niềm tin tiêu dùng sẽ công bố trong ngày hôm nay. Dự báo kết quả khả quan có thể sẽ hỗ trợ cho đồng EUR như là dẫn chứng cho khả năng miễn nhiễm của kinh tế toàn khu vực trước “mầm bệnh” Hy Lạp.

FED sẽ nộp vào quốc khố Mỹ 47,4 tỷ USD



Cục dự trữ liên bang Mỹ FED sẽ nộp khoản lợi nhuận 47,4 tỷ USD trong năm 2009 của mình vào Bộ Tài chính Mỹ. Số tiền kỷ lục này bỗng nhiên lại cho thấy, ngân hàng trung ương Mỹ có khả năng chuyển sự can thiệp với quy mô lớn nhằm cứu vãn hệ thống tài chính của mình thành một sự đầu tư thành công.

Trong báo cáo doanh thu cả năm được công bố trong ngày hôm qua (21/4) cho thấy, FED tuyên bố, doanh thu lợi nhuận của năm ngoái tăng 50%, lên 53,4 tỷ USD, động lực thúc đẩy chủ yếu là doanh thu lợi tức tổ hợp từ các loại chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (hay MBS). Để chống đỡ cho thị trường nhà đất đang bị thiệt hại nặng nề, FED đã từng mua về một lượng lớn chứng khoán MBS.

Cùng với sự tàn phá của cuộc khủng hoảng tài chính vào cuối năm 2008, Cục dự trữ liên bang Mỹ bắt đầu thu mua tài sản trong phạm vi rộng rãi, nhằm hỗ trợ thị trường tín dụng toàn cầu, việc này đã khiến quy mô bảng cân đối tài sản ngày một lớn hơn, từ khoảng xấp xỉ 900 tỷ USD, tăng lên hơn 2200 tỷ USD.

Theo các quan chức của FED, sự xuất hiện số tiền nộp vào ngân sách chính phủ ở mức kỷ lục nguyên nhân nằm ở, khi Cục dự trữ liên bang Mỹ FED thu mua vô số tài sản xấu, do các nhà đầu tư hiếm có khác hỏi han, nên giá trị của chúng bị hạ thấp; sau đó thị trường khôi phục nguyên khí.

Ngoài khoản lợi nhuận sinh ra từ việc đầu tư chứng khoán MBS, năm ngoái, FED còn thu được khoản lợi nhuận tổng cộng 5,6 tỷ USD trong các thương vụ khác. Những thương vụ đó bao gồm, hỗ trợ tín dụng tiêu dùng và thị trường ngân phiếu định mức thương mại, cũng như thiết lập các công cụ đầu tư để cứu trợ cho ngân hàng đầu tư Bear Stearns và tập đoàn bảo hiểm quốc tế Mỹ AIG. Tuy nhiên, ngân hàng trung ương Mỹ này trong năm 2008 cũng đã bị thua lỗ 1,7 tỷ USD do một số thương vụ.

Số tiền nộp vào quốc khố Mỹ mà FED công bố trong ngày hôm qua cao hơn cả số tiền 46,1 tỷ USD đã dự đoán hồi tháng 1/2010, nó là một dấu hiệu mới nhất cho thấy, sự can thiệp của chính phủ cuối cùng không phải trả giá quá đắt giống như những gì mà nhiều giới chức bình luận đã lo lắng.

Vốn cho quỹ bảo lãnh tín dụng và đầu tư của ASEAN + 3



Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cùng các nước ASEAN + 3 (ASEAN cùng các đối tác là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc) đang tiến tới thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng và đầu tư (CGIF) chung nhằm tăng cường ổn định tài chính và thúc đẩy đầu tư dài hạn trong khu vực.

ADB cho biết, Ban giám đốc ngân hàng này đã thông qua việc góp 130 triệu USD cho việc thành lập CGIF cùng với các nước ASEAN + 3. Quy mô của của CGIF là 700 triệu USD, trong đó Trung Quốc góp 200 triệu USD, Nhật Bản 200 triệu USD, Hàn Quốc 100 triệu USD và các nước ASEAN góp 70 triệu USD.

Sau cuộc khủng hoảng tài chính 1997-1998, các chính phủ trong khu vực đã hợp tác nhằm mở rộng các thị trường trái phiếu nội địa. ASEAN + 3 đã đưa ra Sáng kiến Thị trường Trái phiếu châu Á (ABMI) và nhiều ngân hàng trung ương trong khu vực đã lập Quỹ Trái phiếu châu Á (ABF) năm 2003 nhằm hỗ trợ sự phát triển của thị trường. CGIF là sự tiếp nối của các nỗ lực nhằm thúc đẩy các thị trường một khu vực vùng ngày càng phụ thuộc lẫn nhau.

CGIF sẽ bắt đầu hoạt động thí điểm từ năm 2011 bằng việc cung cấp bảo lãnh đối với các trái phiếu bằng tiền địa phương do những công ty trong khu vực phát hành. CGIF sẽ giúp cho các tập đoàn có thể phát hành trái phiếu tại thị trường nội địa, các thị trường láng giềng và trên khắp ASEAN + 3. Việc chuyển vốn tiết kiệm trong khu vực thành những khoản đầu tư tại khu vực sẽ hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và góp phần giảm nghèo.