Thứ Năm, 22 tháng 4, 2010

Thất nghiệp thách thức lớn các nước phát triển



Ảnh chỉ có tính minh họa. (Nguồn: Internet)

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo tình trạng thất nghiệp sẽ tiếp diễn ở các nước phát triển cho tới cuối năm 2011 với tỷ lệ thất nghiệp trung bình ở mức 9%.

Trong Báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới công bố ngày 14/4, IMF nhấn mạnh thất nghiệp cao kéo dài có thể là thách thức chủ chốt trong chính sách mà chính phủ các nước phát triển phải đối mặt khi kinh tế phục hồi.

IMF dự báo các nền kinh tế phát triển sẽ phải chật vật tạo đủ việc làm ngay khi kinh tế tăng trưởng trở lại để đáp ứng sự gia tăng của lực lượng lao động.

Tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm các nước phát triển sẽ vẫn ở mức cao khoảng 9% cho tới cuối năm 2011. Hơn nữa tỷ lệ thất nghiệp sẽ vẫn còn tăng cao ngay cả khi việc làm bắt đầu gia tăng do lực lượng lao động tiếp tục mở rộng.

Sau khi nghiên cứu các đợt suy thoái toàn cầu trước đây, IMF cảnh báo Mỹ, các nước châu Âu và Nhật Bản phải nỗ lực nhiều hơn để khởi động thị trường việc làm.

Khả năng thất nghiệp cao đòi hỏi các nước này phải đưa ra các chính sách mới để tạo việc làm như chính sách trợ cấp tạm thời cho các doanh nghiệp tuyển nhân viên. Đó là chính sách được Tổng thống Barack Obama ủng hộ khi đề xuất hoàn thuế cho các chủ doanh nghiệp sẵn sàng nhận người thất nghiệp vào làm việc lâu dài.

Cho dù trong tháng Ba, Mỹ đã tạo được 162.000 việc làm mới, mức cao nhất trong ba năm trở lại đây, nhưng tỷ lệ thất nghiệp vẫn duy trì ở mức cao 9,7%. Kể từ khi kinh tế bắt đầu suy thoái vào tháng 12/2007 khoảng 8 triệu người tại Mỹ đã mất việc làm và hiện khoảng 15 triệu người vẫn bị thất nghiệp.

Tình hình ở châu Âu chẳng có gì sáng sủa hơn khi mà trong quý 4 năm ngoái Tây Ban Nha thông báo tỷ lệ thất nghiệp trong nước đứng ở mức 18,83%./.

Trung Quốc tận thu từ khủng hoảng



Sự tương phản không thể rõ rệt hơn. Các chính phủ và công ty trên khắp thế giới phát triển đang trải qua cơn sốc tài chính và đang nỗ lực trong tuyệt vọng để tìm cách phục hồi.

Còn Trung Quốc thì khác. Tuy cũng phải chia sẻ một phần cơn sốc tài chính do không còn là một thực thể tách biệt với kinh tế thế giới, nhưng Trung Quốc không chọn cách cố hàn gắn vết thương mà lao vào các chuyến thăm Trung Đông, Châu Đại dương, Châu Mỹ Latinh để tìm kiếm các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm duy trì sự tăng trưởng kinh tế dài hạn của họ. Xét trên nhiều cấp độ, đây là một động thái thông minh.

Vết thương kinh tế mở ra cơ hội mới

Thứ nhất, hầu hết các nhà phân tích đều dự đoán rằng một khi kinh tế thế giới phục hồi, giá hàng hóa cơ bản sẽ lại tăng, do cầu tăng, cung giảm vì thiếu đầu tư mới trong thời buổi khó khăn trước đó. Khi điều này xảy ra, Trung Quốc có vị trí thuận lợi để kiểm soát được một phần lớn hơn nguồn tài nguyên giàu có của thế giới, ít nhất là bởi họ có thể tăng sản lượng từ những dự án dầu mỏ khí đốt được nhượng quyền khai thác.

Thứ hai, với việc một loạt các thị trường đang trỗi dậy giàu có tài nguyên bị ảnh hưởng nặng nề bởi việc thiếu tín dụng và sự suy yếu của các nền tảng cơ bản khác, Trung Quốc đã có thể trích một phần dự trữ ngoại tệ 2 nghìn tỉ đô la Mỹ của mình để đầu tư cho các hãng sản xuất dầu khí ở Venezuela, Iran, Nga và Brazil, nhằm đổi lại những hợp đồng cung ứng dài hạn. Trong lĩnh vực khai mỏ và kim loại Bắc Kinh thậm chí còn táo bạo hơn. Không ký kết các hợp đồng cung ứng dài hạn, Bắc Kinh mua cổ phần trực tiếp của các hãng sản xuất thép, sắt và kẽm ở Australia trong khi đang từng bước tiếp cận các hãng đồng ở Chile.
Với những ai đã quen với thị trường năng lượng và hàng hóa cơ bản quốc tế, sự phát triển này không hoàn toàn mới, nhưng điểm nổi bật là mức độ tín dụng được dành ra để cấp cho các hoạt động mua lại và sáp nhập ở nước ngoài và mua tài nguyên của Trung Quốc – không chỉ từ các doanh nghiệp lớn của nước này – mà còn thông qua các công cụ đầu tư như Tập đoàn Đầu tư Trung Quốc. Điều này không phải là vì cầu nội địa ở Trung Quốc đã tăng lên (còn xa TQ mới đạt được điều này) mà là vì đầu tư là một trong những mối quan tâm dài hạn của Bắc Kinh.

Trong thời gian qua, những mối lo kinh tế đã lan rộng, làm chứng khoán giảm giá và chủ nghĩa tài nguyên quốc gia thoái trào ở khắp nơi. Hai yếu tố này đã tạo cơ sở hữu ích cho Trung Quốc nuôi dưỡng các danh mục đầu tư vào tài nguyên thiên nhiên của mình. Bằng chứng là, công ty nhôm Trung Quốc Chinalco đang có khả năng mua được một số cổ phần lớn tại công ty khai mỏ Rio Tinto. Điều này nhấn mạnh rằng cuộc chơi trong lĩnh vực hàng hóa cơ bản, cũng giống như cuộc chơi trong ngành tài chính toàn cầu, đã được thay đổi theo ý muốn của quốc gia, và ý muốn quốc gia cũng có sức mạnh chẳng kém các quy luật của thị trường.

Hái những trái đầu mùa

Không ngạc nhiên khi cả Caracas và Mát-xcơ-va đều hân hoan chào đón các khoản vay trị giá 12 tỉ và 25 tỉ đô la Mỹ từ Trung Quốc. Để đổi lại, họ sẽ cung ứng dầu mỏ trong dài hạn cho “phía Đông”. Năng lực tài chính hiện thời của họ không thể cho phép họ làm khác.

Cách đây 3 năm, Trung Quốc đã lần đầu tiên dành sẵn các dòng tín dụng cho Venezuela, cộng thêm một khoản vay mới trị giá 12 tỉ đô la, trong khi Ngân hàng Phát triển Trung Quốc tiếp tục cho Ngân hàng Phát triển Venezuela, Bandes vay vốn. Đổi lại, gần đây Hãng dầu khí Venezuela PDVSA thỏa thuận sẽ bán cho Trung Quốc 80 nghìn thùng dầu một ngày và 200 nghìn thùng dầu thô một ngày để thanh toán số nợ đó và đảm bảo luôn có thể tiếp cận các dòng tín dụng. Số dầu này sẽ đến tay những người nhận là Sinopec và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNPC), 2 công ty dầu khí lớn của Trung Quốc.

Tuy nhiên, giá trị của hợp đồng này vẫn chưa phải là cao nhất. Nó vẫn xếp sau thỏa thuận cho vay được hậu thuẫn bằng xuất khẩu dầu trị giá 25 tỉ đô la Mỹ được chờ đợi từ lâu với Nga. Theo thỏa thuận này, hai thực thể được điều hành bởi nhà nước Nga là Rosneft và Transneft sẽ cung cấp 300 nghìn thùng dầu thô một ngày cho Trung Quốc trong 20 năm. Hợp đồng này chỉ bắt đầu sớm nhất vào năm 2011 khi đường ống Thái Bình Dương Đông Xibêri hoàn tất, nhưng nó vẫn là hợp đồng tài chính thương mại lớn nhất giữa hai nước và giúp làm dịu đi cơn khát tài chính của các nhà khổng lồ năng lượng Nga trong bối cảnh khủng hoảng tín dụng.

Mặc dù dự án này có thể bị trì hoãn, nhưng chắc chắn nó đã nhấn mạnh sự liên kết về năng lượng ngày một vững mạnh giữa Nga và Trung Quốc, và không thể bị ảnh hưởng bởi những rủi ro chính trị tương tự những nhân tố đang tác động tới nguồn cung của Nga cho thị trường châu Âu. Dù gì đi nữa, Nga đã có thể đặc biệt coi trọng việc đảm bảo nguồn cung cho Trung Quốc và quên đi quyền lợi của bạn hàng châu Âu trong giai đoạn 2010-2011; Nhu cầu của Trung Quốc quan trọng đến nỗi Mát-xcơ-va không muốn để xảy ra bất kỳ sơ suất nào.

Hợp tác và Đối kháng

Mặc dù vậy, do cầu về hàng hoá cơ bản tiếp tục giảm ởcác nước OECD trong tương lai gần, cùng với việc tăng cường chú trọng sử dụng các dạng năng lượng tái tạo, trước mắt sẽ không có sự tranh giành nào đáng kể giữa các thị trường phát triển và đang trỗi dậy. Tuy nhiên, các công ty dầu mỏ quốc tế đã hết sức lo lắng khi nhận thấy rằng, một trong những khó khăn lớn nhất là họ chỉ có khả năng giành giật 10% dự trữ tài nguyên toàn cầu do những trữ lượng tài nguyên đã được tìm thấy nằm trong tay của rất nhiều quốc gia.

Một khi nền kinh tế toàn cầu khởi sắc trở lại, họ có thể nhận thấy tỉ lệ phần trăm này thậm chí còn bị thu hẹp hơn do cán cân quyền lực trong việc kiểm soát các hàng hóa cơ bản đã nghiêng thêm về phía Đông. Nếu điều này được chứng minh là đúng, các chính phủ sẽ nhanh chóng chuyển sang tranh giành tài nguyên gay gắt ở Trung Đông, Trung Á, châu Mỹ La tinh và Châu Phi.

Thực tế, sự tranh giành tài nguyên và các mối quan hệ quốc tế luôn luôn là một hỗn hợp dễ cháy; và suy yếu kinh tế có thể loại trừ “ngòi nổ phương Tây” vào thời điểm này, nhưng cùng lúc đó nó hoạt động như một chất xúc tác thôi thúc Trung Quốc đầu tư vào các nguồn tài nguyên trên toàn cầu. Một khi cầu của thế giới phục hồi, các quốc gia và doanh nghiệp phương tây chắc chắn sẽ tái tham dự cuộc đua, nhưng Trung Quốc cũng sẽ tăng gấp đôi nỗ lực của mình. Và thế giới khi đó sẽ tiếp tục chứng kiến một cuộc cạnh tranh tài nguyên mới giữa Trung Quốc và thế giới bên ngoài. Bằng những nỗ lực chớp thời cơ từ khủng hoảng, thôn tính và mua lại nhiều tài nguyên trong thời gian qua, trên thực tế Trung Quốc đã chuẩn bị trước cho cuộc cạnh tranh khốc liệt này

Kinh tế Mỹ “tiến nhanh” hơn so với dự đoán



Mặc dù nhiều chuyến bay bị hủy bỏ do ảnh hưởng bởi khói bui núi lửa Iceland, nhưng hội nghị mùa xuân của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF và Ngân hàng thế giới WB vẫn được diễn ra theo đúng lịch trình tại thủ đô Washington. Trước thềm khai mạc hội nghị, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, nền kinh tế Mỹ đã tiến nhanh hơn so với dự đoán.
Bộ trưởng Tài chính Mỹ T. Geithner cho biết, tốc độ tăng trưởng kinh tế Mỹ hiện nay nhanh hơn so với dự đoán trước đó của chính phủ Mỹ. Ngoài ra, ông cho biết thêm, Quốc hội Mỹ sẽ xóa bỏ những mâu thuẫn của hai Đảng Dân chủ và Cộng hòa trong vấn đề cải cách tài chính, thông qua một dự luật nhằm bảo vệ lợi ích cho những người nộp thuế.

Sau khi Ủy ban chứng khoán Mỹ cáo buộc tập đoàn Goldman Sachs có những hành vi lừa đảo nhà đầu tư liên quan tới vấn đề kinh doanh các sản phẩm tài chính phái sinh như tín dụng thế chấp dưới chuẩn, hai nước Anh và Đức cũng dự định tiến hành điều tra liên quan tới vụ lừa đảo của Goldman Sachs.

Trong quý III năm nay, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Mỹ đã tăng 3,5%. Đây là lần tăng đầu tiên trong hơn một năm qua và là lần tăng với tốc độ cao nhất trong hai năm qua của nền kinh tế Mỹ.

Bên cạnh đó, trong một thông cáo của mình, Nhà Trắng cho biết gói kích thích kinh tế trị giá 787 tỷ USD mà chính phủ Mỹ thông qua hồi đầu năm nay đã giúp duy trì và tạo ra hơn một triệu việc làm.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia kinh tế vẫn nhắc nhở rằng, mặc dù nền kinh tế đang có đà khôi phục đáng lạc quan, nhưng vẫn còn “một con đường dài phía trước” trước khi nước Mỹ trở lại “thời thịnh vượng”

Châu Á rục rịch ngừng chính sách nới lỏng tiền tệ



Ngân hàng trung ương một số nước ở châu Á bắt đầu ngừng áp dụng chính sách nới lỏng tiền tệ trong bối cảnh nền kinh tế các nước này đã phục hồi, trong khi rủi ro lạm phát ngày càng tăng.

Mới đây, Malaisia và Ấn Độ đã tăng tỷ lệ lãi suất chính sách lần đầu tiên kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, còn Ôxtrâylia đã tăng lãi suất 4 lần liên tiếp. Malaisia là nước đầu tiên ở châu Á, không kể Ôxtrâylia, tăng lãi suất trong một phần nỗ lực nhằm chấm dứt các biện pháp đối phó khủng hoảng khi Ngân hàng trung ương nước này đã tăng 0,25% lãi suất lên 2,25% vào tháng trước. Ấn Độ đã tăng lãi suất vào giữa tháng 3, trong khi Trung Quốc được dự đoán sẽ làm như vậy vào quý II năm nay. Các nước khác trong khu vực dự kiến cũng hành động tương tự, nhưng thời điểm còn tuỳ thuộc vào giá cả tăng mạnh ở mức độ nào.

Ngày 19/3, Ngân hàng Trung ương Ấn Độ (RBI) đã tăng lãi suất tái chiết khấu từ 4,75% lên 5%. RBI cho rằng, sự tăng giá nhanh chóng của các mặt hàng không phải là lương thực cũng như các mặt hàng nhiên liệu trong những tháng gần đây đã trở thành mối lo ngại thực sự. Còn Malaisia nâng lãi suất trong bối cảnh nhu cầu nội địa ở nước này đã tăng nhờ các biện pháp kích thích kinh tế của Chính phủ và kim ngạch xuất khẩu hồi phục. Ngân hàng Trung ương Malaisia (BNM) đã quyết định tăng lãi suất chính sách từ 2% lên mức 2,25%. Đây là lần đầu tiên BNM tăng lãi suất này trong vòng 4 năm qua.

Trước đó, vào đầu năm 2010, cả Ấn Độ và Trung Quốc đều tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Tuy nhiên, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc vẫn chưa tăng lãi suất cơ bản.

Mặc dù Ấn Độ là nước đi đầu châu Á trong việc thắt chặt tiền tệ nhưng ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Ôxtrâylia mới là nước đầu tiên bắt đầu thực thi chiến lược lối thoát nhằm chuyển hướng chính sách tiền tệ. Ngày 2/3, Ngân hàng Dự trữ Ôxtrâylia (RBA) đã quyết định tăng lãi suất chính sách lên 4%, khi nền kinh tế nước này bắt đầu hồi phục. Đây là lần thứ 3 kể từ tháng 10/2009, RBA tăng lãi suất này.

61 tỷ USD của châu Âu không đủ giúp Hy Lạp quay lại đà tăng trưởng



Các chuyên gia kinh tế của Goldman Sachs, HSBC và Morgan Stanley đều cho rằng, gói giải cứu 61 tỷ USD mà Châu Âu và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) dành cho Hy Lạp chỉ có thể giúp nước này thoát khỏi khả năng vỡ nợ trước mắt, còn về lâu dài rất khó giúp nước này quay lại đà tăng trưởng.

Kinh tế Hy Lạp, sau khi tăng trưởng âm 2% trong năm 2009, hiện đang chịu nhiều rủi ro từ những biện pháp thắt chặt chi tiêu của chính phủ. Ngay cả sau khi giảm chi tiêu và tăng thuế, mức thâm hụt ngân sách của Hy Lạp vẫn tương đương 8,7% GDP. Theo dự báo của ngân hàng Deutsche Bank AG, kinh tế Hy Lạp có thể tăng trưởng âm 4% trong năm 2010.

Trong tuần vừa qua, Bộ trưởng Tài chính nhóm nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu đã đồng ý cấp cho Hy Lạp khoản vay 30 tỷ euro, tương đương 41 tỷ USD ở mức lãi suất 5%, thấp hơn mức lãi suất của thị trường. Ngoài ra, IMF hỗ trợ Hy Lạp thêm 15 tỷ euro để cứu nước này khỏi tình trạng vỡ nợ. Nhưng các chuyên gia kinh tế của Goldman Sachs lại nhận định: “Vấn đề quan trọng ở đây là liệu Hy Lạp có thể khiến kinh tế tăng trưởng trở lại và cùng lúc đó giảm thâm hụt ngân sách. Nếu kinh tế không tăng trưởng, nợ chỉ có thể được duy trì nếu có bên nào đó cho họ vay với mức lãi suất thấp hơn 5% trong ít nhất 1 thập kỷ. Mức lãi suất chính thức áp dụng với gói giải cứu chỉ khiến sự chú ý của thị trường đi theo hướng khác.” Còn chuyên gia kinh tế trưởng thuộc ngân hàng HSBC nhận xét: “Việc giảm thâm hụt ngân sách xuống mức tương đương 3% GDP trong 3 năm của Hy Lạp sẽ khó khăn hơn nhiều, thị trường sẽ cần đến những yếu tố đáng thuyết phục hơn trong quá trình đó.”

Như vậy, kể cả ngay khi nhận được gói cứu trợ lớn 61 tỷ USD thì nền kinh tế Hy Lạp vẫn phải đối mặt với rất nhiều thách thức để có thể vực dậy và quay lại đà tăng trưởng.

Thông tin tài chính tiền tệ ngày 19/4/2010



CTCK nhóm nước vùng Vịnh tăng điểm mạnh nhất thế giới

Chỉ số MSCI của TTCK các nước đang phát triển, trong đó bao gồm các thị trường từ Achentina cho đến Việt Nam, đã tăng 7,8% trong năm 2010, cao hơn mức tăng 1,6% của nhóm thị trường chứng khoán các nước mới nổi.

Theo chuyên gia Andrea Nannini thuộc ngân hàng HSBC, thị trường chứng khoán khu vực Trung Đông sẽ tăng trưởng ngang hàng với những thị trường tăng điểm mạnh nhất thế giới – nhóm thị trường chứng khoán các nước đang phát triển (frontier market) sau khi Dubai World công bố kế hoạch tái cơ cấu các khoản nợ trị giá 26 tỷ USD.

Ông Nannini, chuyên gia làm việc tại quỹ HSBC New Frontiers đã kiếm được lợi nhuận tăng trưởng 71% trong năm qua, nói: “Yếu tố kích thích thị trường chứng khoán nhóm nước này tăng điểm sẽ là việc Dubai World thông báo kế hoạch tái cơ cấu. Dù kế hoạch đó như thế nào, thông tin sẽ vẫn là tiêu cực bởi người ta sẽ cảm thấy rõ ràng hơn rất nhiều. Xếp hạng của các thị trường tại Trung Đông có thể được điều chỉnh lại.”

Tháng 10/2009, ông Nannini dự báo nhóm thị trường mới nổi, với quy mô nhỏ hơn hoặc kém phát triển hơn so với thị trường các nước mới nổi, sẽ tăng mạnh hơn so với nhóm thị trường sau.

Ông Nannini cho rằng hiện còn quá sớm để cho rằng đà tăng điểm sẽ chấm dứt bởi giá cổ phiếu tại nhóm thị trường chứng khoán khu vực Trung Đông vẫn còn quá hấp dẫn.

ADB cảnh báo châu Á về việc can thiệp vào tỷ giá hối đoái

Các nước đang phát triển tại châu Á đang có nguy cơ đối mặt với một cuộc khủng hoảng kinh tế mới nếu can thiệp quá sâu vào thị trường ngoại tệ. Đó là cảnh báo của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) trong một bản báo cáo thường niên về khu vực được vừa công bố mới đây. Theo bản báo cáo trên, ADB dự đoán, tăng trưởng kinh tế trong khu vực châu Á sẽ đạt 7,5% trong năm 2010, và giảm nhẹ xuống còn 7,3% trong năm 2011 khi mà các nước đã bắt đầu cắt giảm các chính sách tiền tệ và tài khoá đặc biệt để hỗ trợ cho nền kinh tế. Tuy nhiên, sự hồi phục kinh tế nhanh và mạnh của châu Á đang phải đối mặt với nhiều rủi ro bởi vì các nước trong khu vực đã can thiệp mạnh vào các thị trường tiền tệ nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh cho các mặt hàng xuất khẩu trong nước.

Báo cáo cho rằng, tốc độ và quy mô phục hồi tại các nước châu Á, cộng với tỷ giá hối đoái thấp đã khiến cho nhiều dòng vốn lớn đổ về các nước trong ngắn hạn. “Chính sự can thiệp mạnh mẽ, cộng với lượng tiền mặt quá dư thừa đã làm cho tỷ giá hối đoái thực bị nâng lên và nền kinh tế sẽ trở nên quá nóng. Đặc biệt, sự đảo lộn bất chợt các dòng vốn trong ngắn hạn (là kết quả của sự can thiệp này) sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự ổn định tài chính và kinh tế, đồng thời tạo ra khủng hoảng tài chính và tiền tệ”.

Cũng theo báo cáo của ADB, một số đồng tiền khác của châu Á lại bị ghìm thấp hơn so với đồng đôla. Điều này cũng cho thấy nhiều nước đã can thiệp mạnh mẽ vào các thị trường ngoại hối trong một giai đoạn khá dài.

ADB cho rằng, đồng nội tệ của Trung Quốc, Hồng Công, Malaysia, Đài Loan và Singapore bị ghìm giá thấp hơn 20% so với đồng đôla, còn đồng nội tệ của Philippines và Thái Lan thấp hơn 10%. Chỉ có tiền tệ của Indonesia, Hàn Quốc và Ấn Độ là được đánh giá “cao hơn một chút” so với đồng đôla. “Rõ ràng hầu hết các đồng tiền của châu Á vẫn bị can thiệp nặng nề, hoặc là so với đồng đôla, hoặc là so với các đồng tiền với nhau. Sự can thiệp này không chỉ xuất hiện trong giai đoạn khủng hoảng”.

ADB kêu gọi ngân hàng trung ương các nước nên điểu chỉnh tỷ giá hối đoái ở mức “cân bằng”, mức mà nền kinh tế có thể vận hành một cách đầy đủ với mức lạm phát thấp và cán cân thanh toán bền vững, nhằm giảm nguy cơ thay đổi đột ngột các dòn vốn do sự can thiệp gây ra. Để đạt được điều này đòi hỏi phải có sự hợp tác sâu rộng giữa các ngân hàng trung ương trong khu vực, trong đó có Trung Quốc. Các nước cũng nên nhất trí điều chỉnh dần tỷ giá hối đoái để tiến tới một trạng thái cân bằng, đồng thời giải quyết sự bất cân đối kinh tế toàn cầu giữa các nước thặng dư và thâm hụt thương mại trong một giai đoạn dài.

Báo cáo cũng trích dẫn một phân tích cho rằng, nếu đồng NDT tăng 10% cũng chỉ làm xuất khẩu của Trung Quốc tăng chưa đến 4%. Nhưng nếu đồng nội tệ của tất cả các nước Đông Nam Á tăng 10% sẽ làm giảm xuất khẩu của Trung Quốc tới 10%.

Ngoài ra, ADB cũng yêu cầu các nước thực hiện các biện pháp cải cách, trong đó có việc điều phối chặt chẽ hơn giữa chính sách tiền tệ và tài chính, nhằm ngăn chặn tình trạng bong bóng tài sản, đồng thời rỡ bỏ những trở ngại về cơ cấu để kích cầu trong nước.

Chủ tịch ADB Haruhiko Kuroda cho biết, trong bối cảnh sự hồi phục kinh tế tại châu Á đang giành được động lực, các nhà hoạch định chính sách cần có chính sách kinh tế vĩ mô phục vụ các kế hoạch dài hạn hơn, nhằm củng cố tính bền vững của sự hồi phục kinh tế trong khu vực và trên toàn thế giới.

ADB góp 130 triệu USD cùng ASEAN+3 lập quỹ

Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cùng các nước ASEAN+3 đang tiến tới thành lập một quỹ bảo lãnh tín dụng và đầu tư chung nhằm tăng cường ổn định tài chính và thúc đẩy đầu tư dài hạn trong khu vực. Ban giám đốc ADB đã thông qua việc góp 130 triệu USD cho việc thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng và đầu tư (CGIF) cùng với các nước ASEAN+3 (ASEAN cùng các đối tác là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc). Quy mô của CGIF là 700 triệu USD, trong đó Trung Quốc góp 200 triệu USD, Nhật Bản 200 triệu USD, Hàn Quốc 100 triệu USD và các nước ASEAN góp 70 triệu USD. Dự kiến, CGIF sẽ bắt đầu hoạt động thí điểm từ năm 2011, bằng việc cung cấp bảo lãnh đối với các trái phiếu bằng tiền địa phương do những công ty trong khu vực phát hành.

Theo Cố vấn của Văn phòng Hội nhập Kinh tế Khu vực ADB, Noy Siackhachanh, CGIF sẽ giúp cho các tập đoàn có thể phát hành trái phiếu tại thị trường nội địa, các thị trường láng giềng và trên khắp ASEAN+3. Việc chuyển vốn tiết kiệm trong khu vực thành những khoản đầu tư tại khu vực sẽ hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và góp phần giảm nghèo.

Theo ADB, các thị trường trái phiếu bằng đồng tiền địa phương của Đông Á đã mở rộng nhanh chóng trong những năm gần đây, với tổng giá trị 4,4 tỷ USD vào cuối năm 2009. Tuy nhiên, các thị trường này vẫn chỉ chiếm khoảng 7% lượng trái phiếu toàn cầu. Hơn nữa, các trái phiếu công ty cũng chỉ chiếm 30% lượng trái phiếu bằng tiền bản địa trong khu vực.

Kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính 1997-1998, các chính phủ trong khu vực đã hợp tác nhằm mở rộng các thị trường trái phiếu nội địa, với việc ASEAN+3 đưa ra Sáng kiến Thị trường Trái phiếu châu Á (ABMI) và nhiều ngân hàng trung ương trong khu vực thiết lập Quỹ Trái phiếu châu Á (ABF) vào năm 2003 nhằm hỗ trợ sự phát triển của thị trường.

CGIF là sự tiếp nối của các nỗ lực nhằm thúc đẩy các thị trường trong cùng một khu vực ngày càng phụ thuộc lẫn nhau

Kinh tế Trung Quốc sẽ vượt qua Nhật Bản sau khi tăng giá đồng RMB



Theo nhận định của ngân hàng Australia and New Zealand Banking Group Ltd. (ANZ), việc Trung Quốc thực hiện đijnh giá lại đồng nhân dân tệ có thể sẽ giúp cho kinh tế nước này vượt qua Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới Liu Li-Gang, chuyên gia kinh tế thuộc ANZ Hồng Kông cho biết, việc đồng nhân dân tệ tăng lên 5% so với đôla Mỹ có thể khiến cho GDP quý 3/2010 của Trung Quốc vượt qua Nhật Bản. Cho tới cuối năm, kinh tế Trung Quốc có khả năng sẽ vượt qua Nhật Bản, kể cả khi đồng nhân dân tệ được duy trì ổn định sau khi tăng giá.

Nếu như thực sự xảy ra, việc này sẽ được coi là một bước tiến quan trọng đối với Trung Quốc sau khi quốc gia này vượt qua Đức để trở thành nước xuất khẩu hàng đầu thế giới hồi năm ngoái. Theo nhận định của Goldman Sach, sự đi lên của nền kinh tế hiện đang đứng thứ ba thế giới này sẽ khiến đồng nhân dân tệ trở thành loại tiền tệ dự trữ của nhiều quốc gia, chỉ xếp sau đồng đôla Mỹ và đồng euro.

Năm ngoái, GDP Trung Quốc đạt 33,535 nghìn tỷ nhân dân tệ, tương đương với 4,91 nghìn tỷ đôla Mỹ. Trong khi đó, tăng trưởng kinh tế Nhật Bản đạt 5,07 nghìn tỷ đôla.

Louis Kuijs, chuyên gia kinh tế Ngân hàng thế giới (WB) cho biết, mặc dù kinh tế Trung Quốc sẽ dần vượt lên và qua mặt kinh tế Nhật Bản ngay trong năm nay nhưng các yếu tố mùa vụ sẽ khiến cho việc so sánh theo quý trở nên khó khăn hơn. Theo dự đoán của SJS Markets Ltd., Trung Quốc có thể sẽ vượt qua Nhật Bản ngay từ ba tháng đầu năm nay.

Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) cũng đưa ra dự đoán tương tự rằng kinh tế Trung Quốc có thể vượt lên thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới trong năm 2010.

Ngày hôm nay, tỷ giá đồng nhân dân tệ không chuyển giao được giao dịch ở 6,6290 RMB/USD. Giới quan sát hy vọng đồng nhân dân tệ có thể sẽ được nâng lên khoảng 3% trong vòng 12 tháng tới.

Ông Liu cho rằng, việc tăng giá đồng nhân dân tệ lên 5% ngay một lần sẽ thể hiện "lợi thế thương mại" đối với các đối tác thương mại trong bối cảnh mối lo ngại về chế độ bảo hộ ngày càng gia tăng. Việc này sẽ không khuyến khích giới đầu tư hứng thú với lợi nhuận từ đồng nhân dân tệ do họ không dự đoán được thời điểm Bắc Kinh sẽ thực hiện việc tăng giá đồng nội tệ.

Trong khi đó, nếu duy trì việc tăng giá đồng nhân dân tệ một cách từ từ, vốn đầu cơ sẽ tiếp tục chảy vào Trung Quốc và gây nhiều khó khăn hơn cho các nhà hoạch định chính sách nước này trong việc kiềm chế lạm phát và rủi ro hình thành bong bóng trên thị trường bất động sản.

Theo dự đoán của ông Liu, có thể chính phủ Trung Quốc sẽ thực hiện việc đánh giá lại đồng nhân dân tệ ngay trong quý 2/2010.